Ba lần can vua

Ba lần can vua

Trương Đỗ (có sách viết là Trương Xã, có lẽ bởi trong Hán tự đỗ và xã có mặt chữ viết gần giống nhau mà người đời gọi nhầm. Trương Đỗ là người làng Phù Đới, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, nay là làng Phù Tải, xã Thanh Giang (Thanh Miện, Hải Dương), đỗ tiến sĩ và làm quan vào nửa sau thế kỷ XIV. Đây là thời kỳ nhà Trần ngày càng suy yếu, kỷ cương lỏng lẻo, gian thần tiếm quyền, khắp nước loạn lạc, nhân dân điêu đứng. Đời vua Trần Dụ Tông, thầy Chu Văn An dâng “thất trảm sớ” đòi chém đầu 7 tên gian thần nhằm làm trong sạch đám cầm quyền, nhưng vua không nghe nên ông lui về núi Phượng Hoàng (Chí Linh) mở trường dạy học.

Đến đời Trần Duệ Tông, Ngự sử Đại phu Trương Đỗ ba lần dâng “Bãi chiến sớ” can vua chớ gây cuộc binh đao, nhưng không hiệu quả nên ông cũng từ quan, còn vua Duệ Tông phải trả giá cực đắt bằng chính mạng sống của mình cho thói ương ngạnh không chịu lắng nghe lời tôi hiền can gián. Sách Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn chép về chuyện của Trương Đỗ can vua như sau: Chiêm Thành chống lệnh, tội cũng chưa đáng phải giết, đã thế nó lại ở cõi xa xôi, núi sông hiểm trở. Nay bệ hạ mới lên ngôi, đức chính và giáo hóa chưa thấm nhuần được tới phương xa, vậy hãy sửa sang văn đức, khiến nó tự đến thần phục. Nếu như nó không theo thì sau sẽ sai tướng đi đánh cũng không muộn.

Với lời can gián trên đây cho thấy, Trương Đỗ muốn dùng ân đức nhân nghĩa để cảm hóa chứ không dùng bạo lực chiến tranh. Bởi hơn ai hết ông hiểu rõ khi ấy, trong nước vừa dẹp xong loạn Dương Nhật Lễ, tình hình chưa ổn định, thế và lực còn yếu; mà phía Chiêm Thành lại đang khởi sắc với ông vua dũng cảm là Chế Bồng Nga, cho nên hòa bình là giải pháp duy nhất đúng lúc ấy.

Tiếc rằng, Trương Đỗ đã ba lần dâng sớ can vua nhưng không được, ông bèn treo mũ mà bỏ đi. Theo các tài liệu còn lưu lại đến ngày nay, Trương Đỗ là người thanh liêm, thẳng thắn, không bè đảng, phóng khoáng và có chí lớn. Với ba lần dâng “bãi chiến sớ” sử thần Ngô Sĩ Liên có lời bàn về việc này như sau: Trương Đỗ nói không giấu lời, thế là xứng chức, nói đến ba lần thế là cố can; mà vua không nghe, thế là tâm trí của vua đã chê rồi. Người có trách nhiệm phải nói, không được nghe thì đi, thế là sự tiến lui của Đỗ hợp với lẽ phải vậy. Tuy lời nói thẳng, thường trái tai vua mà lợi cho thân vua, nên lấy việc này làm gương.

Hồi nhỏ, có lần ông ra chơi ở Hồ Tây xem tướng sĩ tập bắn và có nói đùa rằng: Nghề này thì có khó gì? Vị tướng đang rèn binh sĩ nghe vậy lấy làm ngạc nhiên và hỏi lại rằng: Mày có bắn trúng được không? Ông trả lời: Xin thử xem.

Nói rồi ông bắn ba phát trúng cả ba. Vị tướng quân thấy vậy rất kinh ngạc, muốn nuôi làm con nhưng Trương Đỗ coi khinh không theo. Về sau, ông đi học và thi đậu thái học sinh, từ đó tên tuổi ông được nhiều người biết đến. Ông làm quan trong sạch, nghèo túng, không gây dựng điền sản, con cháu nối đời làm quan cũng có tiếng nghèo mà luôn giữ mình trong sạch.

Sử thần Ngô Sĩ Liên đã viết về ông trong sách “Đại Việt sử ký toàn thư” như sau: Học ba trăm thiên Kinh Thi, đi sứ bốn phương, không làm nhục mệnh vua, Đình Thâm được thế đấy. Huống chi gặp buổi cướp ngôi, lại biết tự giấu mình để tránh quyền vị, đáng gọi là kẻ sĩ, có thể cho là không phụ học vấn của mình vậy.

Sau đó, triều đình do vua Trần Phế Đế trị vì đã mời ông trở lại làm quan và thăng đến chức Đình úy tự khanh, Trung Đô phủ tổng quản cho đến khi về hưu và mất. Như vậy, Trương Đỗ không chỉ là quan ngự sử đại phu mà còn làm Tổng quản phủ Trung Đô gồm hai huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức – tức kinh thành Thăng Long – trong những năm cuối đời Trần. Mảnh đất ngàn năm văn hiến đã tự hào có một bậc danh thần khí phách Chu Văn An, lại có thêm một tổng quản thanh liêm, cương trực, dũng cảm đáng được kính trọng…

Lời bàn:

Trong sách “Kiến văn tiểu lục”, Lê Quý Đôn đã tôn vinh 5 vị cao sĩ thời Trần. Trong đó, Chu Văn An là người đứng đầu và Trương Đỗ được xếp sau Chu Văn An một bậc. Đánh giá chung về những nhân vật này, Lê Quý Đôn viết: Đây là những người trong trẻo, cương trực, cao thượng, có phong độ như sĩ quân tử thời Tây Hán, thật không phải những người tầm thường có thể theo kịp được. Bởi vì nhà Trần đãi ngộ sĩ phu rộng rãi, không bó buộc, hòa nhã, có lễ độ, cho nên nhân vật trong một thời có chí khí tự lập, hào hiệp, cao siêu, vững vàng, vượt ra ngoài thói thường, làm rạng rỡ trong sử sách, trên không thẹn với trời, dưới không thẹn với đất.

Trong lịch sử vương quyền Việt Nam, nhà Trần hẳn nhiên là một triều đại lẫy lừng. Về võ công, đây là vương triều đã thống lĩnh quân dân Đại Việt ba lần chặn đứng vó ngựa cuồng phong của đạo binh viễn chinh Mông Cổ bách chiến bách thắng. Về văn hiến, đây là vương triều đã sản sinh ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Tiếc rằng, nhà Trần kể từ vua Trần Dụ Tông trở về sau người ham chơi bỏ bê triều chính, người thì hữu dũng nhưng vô mưu, người lại nhu nhược và thích dùng nịnh thần, gian thần và xa lánh trung thần. Chính vì không quy tụ được người hiền tài như những vua trước nên lần lượt các vị vua Trần Dụ Tông, Trần Nghệ Tông và Trần Duệ Tông đã từng bước đẩy ngai vàng của nhà Trần đến chỗ sụp đổ. Thế mới hay rằng, vào thời phong kiến loạn lạc, ngôi vua quý hơn nhiều so với tình thâm nghĩa trọng trong gia đình và thậm chí nó còn cao hơn cả đạo quân – thần.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Ngoại giao thời Tây Sơn

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào ngày 13 tháng Tư năm Kỷ [...]

Bản lĩnh Mạc Đĩnh Chi

Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi sinh năm 1272 và mất năm 1346, đời nhà Trần. [...]

Nhà thơ của niêm luật

Bà Huyện Thanh Quan là một nhà thơ chặt chẽ về niêm luật. Tên thật [...]

Đại công thần Nguyễn Xí

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Nguyễn Xí sinh năm Đinh Sửu (1397) tại làng [...]

Bản lĩnh Phùng Khắc Khoan

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, mãi đến khi 52 tuổi, Phùng Khắc [...]

Tấm gương sáng

Trong lịch sử thời phong kiến của dân tộc Việt Nam, Hoàng Thái hậu Từ [...]