Sau 3 lần cho người mang lễ vật đến và 2 lần hội kiến, Nguyễn Thiếp mới nhận lời ra giúp Tây Sơn và được Quang Trung – Nguyễn Huệ tin cậy trao cho hai nhiệm vụ lớn. Nhiệm vụ thứ nhất là làm Viện trưởng Viện Sùng Chính. Bấy giờ, Viện Sùng Chính là cơ quan trông coi về giáo dục, đồng thời phụ trách việc dịch các tác phẩm kinh điển và giáo khoa của Nho gia ra chữ Nôm. Cùng làm việc với ông trong Viện Sùng Chính còn có một số danh sĩ khác như Nguyễn Thiện, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân (nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh); Nguyễn Công, Phan Tố Định (hiện chưa rõ lai lịch)…
Cơ quan Viện Sùng Chính đã dịch xong bộ Tiểu học (bộ sách giáo khoa, gồm các tác phẩm như Dương tiết, Minh Tâm, Thuyết ước…) và bộ Tứ thư (một trong 2 bộ kinh điển chủ yếu của Nho gia (Ngũ kinh và Tứ thư). Bộ Tứ thư gồm 4 tác phẩm: Luận ngữ, Trung dung, Đại học và Mạnh Tử. Cả 2 bộ Tiểu học và Tứ thư được Viện Sùng Chính dịch xong vào tháng 7-1792.
Hai bộ sách dịch này gồm tất cả 32 tập. Bản dịch chuyển về Phú Xuân được Quang Trung khen ngợi, ban thưởng cho 100 quan tiền. Ngoài ra, Quang Trung còn sai Trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Văn Thận cấp thêm cho Nguyễn Thiếp đến vài ba chục viên thư lại để giúp việc biên chép ở Viện Sùng Chính. Quang Trung còn yêu cầu dịch gấp Ngũ kinh (gồm Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch và Kinh Xuân Thu) ra chữ Nôm mà trước hết là Kinh Thi, Kinh Thư và Kinh Dịch, hạn trong 3 tháng phải xong! Nhưng, công việc đang tiến hành thì ngày 16-9-1792, vua Quang Trung đột ngột qua đời và sau đó không bao lâu thì Nguyễn Thiếp cũng rời bỏ chức vụ Viện trưởng Viện Sùng Chính để trở về với cuộc sống ẩn dật như cũ. Vì ông không đủ lòng tin, càng không thể phục đối với Quang Toản.
Nhiệm vụ thứ hai mà Nguyễn Thiếp đảm nhận là chọn nơi đóng đô cho chính quyền của Quang Trung – Nguyễn Huệ. Năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân (nay thuộc Huế). Địa điểm được chọn làm nơi đăng quang của Nguyễn Huệ là núi Bân. Và cũng từ đó, kinh đô của chính quyền do Quang Trung – Nguyễn Huệ đứng đầu được xác định là Phú Xuân. Sau cũng có lúc Nguyễn Huệ dự kiến dời đô ra vùng Yên Trường (nay thuộc Ninh Bình), nhưng cuối cùng, Nghệ An mới là đất được chọn lựa chính thức. Bấy giờ, người được ủy thác chọn địa điểm cụ thể trên đất Nghệ An để định đô là Nguyễn Thiếp. Đích thân Nguyễn Huệ viết thư bằng chữ Nôm gửi cho Nguyễn Thiếp để đốc thúc việc thực hiện quyết định quan trọng này. Thư có đoạn viết và được dịch nghĩa như sau: Nơi vua ở sao cho phía sau thì gần núi, đất được chọn hoặc là ở giữa chốn dân cư, hoặc là đâu đất tốt có thể làm kinh đô được, tùy con mắt tinh tường của Phu Tử xét và định đoạt. Chọn nhanh nhanh lên. Ủy cho quan Trấn thủ là Nguyễn Văn Thận xây dựng cung điện, nội trong 3 tháng phải xong để tiện cho vua ra ở.
Nguyễn Thiếp đã chọn địa điểm đóng đô mới cho chính quyền Quang Trung – Nguyễn Huệ ở khoảng giữa núi Kỳ Lân và núi Phượng Hoàng của Nghệ An. Kinh đô mới này được đặt tên là Phượng Hoàng Trung Đô. Công cuộc xây dựng Phượng Hoàng Trung Đô đang tiến hành dở dang thì Quang Trung – Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Vua kế vị là Quang Toản không tiếp tục sự nghiệp này nữa, vì thế mà Phượng Hoàng Trung Đô chưa bao giờ thực sự là kinh đô. Ngày nay, Phượng Hoàng Trung Đô vẫn còn một số dấu tích.
Như vậy, Nguyễn Thiếp là một trong số những nhân vật đặc biệt, để lại dấu ấn khá rõ trong thời Quang Trung trên nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau.
Lời bàn:
Ngay sau khi nhận lời ra giúp vua Quang Trung, Nguyễn Thiếp đã đề ra phương châm phương pháp giáo dục là: Học cho rộng, rồi ước lược cho gọn, theo điều học biết mà làm. Họa may nhân tài mới có thể thành tựu, Nhà nước nhờ nó mà yên. Nguyễn Thiếp đã tâm niệm một chủ trương giáo dục, học tập nhằm mục đích rèn luyện con người và quản lý xã hội. Như vậy, ông đã tỏ ra là người có tinh thần thực tiễn, chú ý đến việc ích nước lợi nhà, chứ không phải là cái học kinh viện giáo điều như ở những nhà nho khác. Cũng theo ông, mục đích chân chính của việc học là để trở thành người có tri thức, có đạo đức, góp phần làm hưng thịnh đất nước chứ không phải học danh lợi. Và muốn học tốt phải có phương pháp, học cho rộng rồi tóm cho gọn, đặc biệt học phải đi đôi với hành.
Tuy tồn tại không lâu nhưng cơ quan Viện Sùng Chính do Nguyễn Thiếp đứng đầu đã có những ảnh hưởng tốt đẹp và to lớn đối với chính quyền của Quang Trung nói riêng cũng như đối với sự phát triển của văn hóa nước nhà cuối thế kỷ thứ XVIII nói chung. Bấy giờ, Quang Trung chẳng những rất đề cao chữ Nôm mà còn muốn biến chữ Nôm thành văn tự chính thức của nước nhà. Việc làm táo bạo đó của Quang Trung đã được sự đồng cảm và ủng hộ của Nguyễn Thiếp. Hai con người, hai thế hệ, hai chí hướng khác nhau, nhưng vẫn có sự gặp gỡ rất tương đắc với nhau. Vì vậy, văn học chữ Nôm thời Tây Sơn phát triển một phần cũng bởi lý do này. Và điều quan trọng còn đọng lại là trách nhiệm của hậu thế là phải biết làm gì để phát huy đạo học của người xưa.
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Thần hộ mệnh của nhà Mạc
Mạc Đăng Dung (Mạc Thái tổ) là người tạo dựng nên vương triều nhà Mạc, [...]
Th3
Chuyện về Nguyễn Đăng Cảo
Nguyễn Đăng Cảo tự là Bá Thành, hiệu Tùng Tiên, sinh năm Kỷ Mùi (1619). [...]
Th3
Đệ nhất công thần
Đầu năm 1285, quân Nguyên tràn sang tấn công Đại Việt với sức công kích [...]
Th3
Tướng quân Lê Thạch
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Thạch là cháu của vua Lê [...]
Th3
Mạc Ngọc Liễn và câu nói để đời
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, triều đại phong kiến nhà Mạc trong [...]
Th3
Gian xảo
Nguyễn Kim (1468-1545) là danh tướng Việt Nam thời nhà Lê Sơ và là người [...]
Th3