Tiếng xấu để đời

Tiếng xấu để đời

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” thì Từ Đạm sinh năm Nhâm Tuất (1862) tại xã Khê Hồi, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội). Ông là con của cử nhân Từ Tế và là anh phó bảng Từ Thiệp.

Vào năm Giáp Ngọ – 1894, đời vua Thành Thái, Từ Đạm đi thi và đỗ cử nhân, năm sau – 1895, ông thi đỗ tiến sĩ. Sau khi thi đỗ được triều đình nhà Nguyễn bổ làm quan, rồi lần thăng đến chức Tuần phủ tỉnh Ninh Bình, hàm Hiệp tá Đại học sĩ.

Cũng theo sách trên cho biết, những năm tháng khi làm quan, Từ Đạm là người luôn vâng lệnh tất cả những quan thầy người Pháp, nhưng ông ta lại luôn xem thường dư luận quần chúng và thậm chí là đồng liêu. Chính vì thế sĩ phu và nhân dân Bắc Hà thời đó vẫn thường hay chê trách, thậm chí còn có không ít người đã dùng nhiều lời cay độc để mắng khéo ông ta. Và có lẽ trong những lời hờn giận, chê trách và thậm chí là chửi mắng ấy đối với Từ Đạm, thì lời cay độc hơn cả là trong bài thơ vịnh Kiều của một thầy nho khuyết danh.

Chuyện xưa kể lại rằng, khi đang làm quan và giữ chức Tuần phủ ở tỉnh Ninh Bình, một lần có ông thầy nho không biết vì cớ gì mà bị lính bắt giam vào ngục phủ. Nằm trong nhà lao, thầy nho kia chẳng những không tỏ ra lo lắng gì, mà còn cứ suốt ngày hết ngâm Kiều, rồi lại đến làm thơ vịnh Kiều. Thấy thầy nho kia có vẻ như cũng có học và hiểu biết về truyện Kiều, Từ Đạm liền đến tận nơi xem rõ thầy nho kia là người như thế nào. Đến nơi, hỏi dò ba câu rồi Từ Đạm nói với ông thầy nho rằng:

– Anh đã hay Kiều đến như vậy thì thử làm một bài thơ vịnh Kiều xem sao. Nếu hay chắc chắn ta sẽ tha cho.

Từ Đạm vừa nói xong, thầy nho trong phòng giam liền đọc ngay:

Khép cửa phòng thu những đợi chờ; Mà em mất nết tự bao giờ. Chàng Kim dại gái sầu oan uổng; Viên ngoại chiều con chết ngắc ngư. Nợ trước nhẹ nhàng con đĩ Đạm; Duyên sau, dun dủi bố cu Từ. Mười lăm năm ấy bao nhiêu sướng; Còn trách làm chi đứa bán tơ”.

Một bài thơ chê trách, hay đúng hơn là chửi Từ Đạm quá sâu cay. Tiếc rằng giai thoại này không nói rõ rằng sau khi nghe bài thơ vịnh Kiều trên của ông thầy nho trong nhà lao, Từ Đạm đã có thái độ ra sao và ông ta có giữ đúng lời hứa của mình hay không?

Khi làm quan tuần phủ ở Ninh Bình, vào năm 1920, Từ Đạm đã cho sửa sang lại cảnh trí ở núi Dục Thúy, tức núi Non Nước. Vốn là người có chút ít kiến thức về thơ văn và cũng muốn lưu danh cho đời sau, nên nhân đó Từ Đạm cho sửa một hòn đá để làm ghế ngồi, trên mặt của hòn đá ấy, ông ta đã cho thợ khắc bốn chữ: “Cúc nhân đoàn tọa”. Về sau, Từ Đạm lại cho người đục hình hai bàn chân của ông vào hòn đá đó và còn khắc 4 câu thơ như sau: Phong nguyệt dữ câu thích; Đồ thán thùy khổng ai? Sở lạc tại sơn thủy, Tọa cửu duy phúc giai. Nghĩa của bài thơ này là: Trăng gió vui cùng hắn; Lầm than bận kệ ai. Vui chơi non với nước; Có phúc được ngồi dai.

Vì chuyện đục bàn chân, khắc đá đề thơ như trên, ông càng bị sĩ phu trong cả nước chê trách. Khi đến thăm núi Dục Thúy, biết được việc làm này của Từ Đạm, thi sĩ Tản Đà cũng đã thuê thợ khắc đá bốn câu thơ đặt cạnh bài thơ của Từ Đạm, với nội dung như sau: Năm ngoái năm xưa đục mấy vần; Năm nay quan lại đục hai chân. Khen cho đá cũng bền gan thật; Đứng mãi cho quan đục mấy lần!

Một giai thoại khác kể lại rằng, vào năm mẹ vua Khải Định tổ chức lễ mừng thọ 50 tuổi, tuần phủ Từ Đạm đã ra câu đối cho mọi người thi đối lại: Tiệc thọ năm mươi mừng mẹ nước. Ngay lúc đó đã có người đối lại rằng: Túi tham nghìn vạn chết cha dân. Và vì là giai thoại nên cũng có bản chép vế đối này như sau: Bạc thuồn chục một chết cha dân.

Lời bàn:

Theo cuốn “Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam”, Từ Đạm có người em ruột tên là Từ Thiệp. Từ Thiệp thi đỗ phó bảng cùng khoa với Từ Đạm. Từ Thiệp từ nhỏ đã có tiếng là người giỏi văn chương. Khi Từ Thiệp được triều đình nhà Nguyễn bổ làm Tổng đốc Nam Ngãi (tức hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay), thì Từ Đạm cũng đang làm tuần phủ Ninh Bình. Từ Thiệp được cử làm chánh chủ khảo trường thi Hương năm 1906. Năm ấy, Từ Thiệp đã cấu kết với Tạ Tương để ăn của đút rồi chấm thi bất công, cho thí sinh học kém đậu và đánh rớt thí sinh học giỏi, vì thế các sĩ phu yêu nước và nhân dân thời ấy có nhiều người đã ra mặt xem khinh cuộc đời và sự nghiệp của cả hai anh em ông.

Từ giai thoại trên đây cho thấy, việc gian lận trong thi cử không phải đến bây giờ mới có. Tiếc rằng bài học cay đắng và nỗi buồn nhục nhã chỉ vì lợi, vì danh mà anh em Từ Đạm, Từ Thiệp không những thân bại danh liệt, mà còn bị người đời cười chê vẫn chưa làm sáng mắt hậu thế. Bởi thế ngày nay mới có nạn chạy trường, chạy lớp và thậm chí là chạy điểm cho con. Và khi nào vẫn còn có những bậc phụ huynh như vậy thì tình trạng dạy thêm, học thêm sẽ vẫn còn tràn lan.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bản lĩnh vua Quang Trung

Sau thất bại thảm hại của quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, [...]

Chuyện về miếu Trung nữ

Theo nhận định của các sử gia đương thời cũng như ngày nay, chiến thắng [...]

Trí tuệ Hoàng Văn Tán

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào cuối thời Lê Sơ (đầu thế [...]

Công chúa trở thành hoàng hậu

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, sau ngày đại thắng quân Thanh xâm [...]

Đặc công nước thời Trần

Sử sách và giai thoại dân gian từ bao đời nay lưu truyền về một [...]

Không xứng làm vua

Theo sử sách còn lưu lại đến ngày nay thì đối với Nguyễn Ánh, tức [...]