Tấm lòng trung nghĩa

Tấm lòng trung nghĩa

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Lê Mô Khởi là người làng Cao Lao Hạ, nay là xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình. Khi còn nhỏ, Lê Mô Khởi học với cha; năm 15 tuổi đã thông thạo thi thư, văn, truyện, kinh phú. Lúc đi thi Mô Khởi lấy tên là Lê Ngọc Thành và đỗ cử nhân khoa Tân Dậu, thời vua Tự Đức thứ 14 (1861).

Khi ra làm quan ông lấy tên là Lê Mô Khởi. Lúc đầu ông được bổ đi trị nhiệm ở các phủ thuộc tỉnh Bình Định, sau về chấm thi trường thi tỉnh Thanh Hóa, rồi làm Án Sát tỉnh Hải Dương. Khi ông ở Hải Dương là lúc tình hình đất nước đang gặp rất nhiều khó khăn. Ngoài Bắc thì thổ phỉ người Hán tràn qua biên giới cướp phá các tỉnh giáp ranh Trung Quốc, thường được gọi là giặc cờ đen, cờ vàng, đồng thời người Pháp cũng bắt đầu xâm nhập nhiều nơi trên đất Bắc Kỳ. Ở trong triều đình thì lục đục, nay truất vua này mai truất vua khác, đường lối chiến hay hòa chưa xác định, quân tướng ở Bắc thì bị triều đình nay triệu hồi, mai bãi binh… Dưới sức ép của người Pháp, ở Bắc kỳ có hàng trăm quan trường bị giáng chức và triệu về kinh đợi xét xử, trong đó có Lê Mô Khởi. Khi Lê Mô Khởi về Huế đợi lệnh, may nhờ có Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thấy ông là người biết lo việc nước, việc dân nên đã điều ông trở lại Hải Dương lĩnh nhiệm vụ Bố Chính.

Nhưng khi đó mẹ ông mất, ông phải cáo quan về chịu tang mẹ. Sống ở quê nhà, ông đã góp phần cùng các bậc trưởng lão giúp dân làng có cơm no, áo ấm, con em được học hành. Ông cũng mở trường dạy học và cùng bà con mở đường sá ở nông thôn. Do đó, làng Cao Lao Hạ lúc bấy giờ đã làm được hai trục đường chính, lại có đường nối với các làng khác, thông thương khắp vùng.

Trong lúc ông đang dạy học và chăm lo kiến thiết hương thôn cùng bà con làng xóm thì một biến cố lớn của đất nước đã làm chấn động toàn dân. Đó là vụ kinh thành thất thủ: Đêm 22 sáng 23 tháng 5 năm Ất Dậu (25-7-1885), quan đại thần Tôn Thất Thuyết chủ động tấn công quân Pháp ở Huế bị thất bại. Tôn Thất Thuyết phải hộ giá vua Hàm Nghi xuất bôn ra Tân Sở (Quảng Trị). Tại đây, nhà vua hạ chiếu Cần Vương lần thứ nhất, kêu gọi toàn dân đánh quân xâm lược Pháp, cứu nước.

Do các mũi tiến quân của quân Pháp nên ở Tân Sở, Tôn Thất Thuyết không thể đưa vua Hàm Nghi ra Bắc theo đường thiên lý, mà phải đưa nhà vua ngược lên Mai Lĩnh, Lao Bảo theo đường núi Trường Sơn, băng qua Lào, đến đèo Quy Hợp về sơn phòng Hà Tĩnh rồi vào đóng đại bản doanh tại vùng núi huyện Tuyên Hóa. Và tại đây, ngày 20-9-1885, nhà vua lại xuống chiếu Cần Vương một lần nữa.

Tin vua Hàm Nghi ra Tuyên Hóa xuống chiếu Cần Vương lan nhanh khắp tỉnh Quảng Bình. Ông Lê Mô Khởi ở Cao Lao Hạ đã cùng học trò đang học với ông đua nhau đi tìm tờ chiếu Cần Vương để xem thì bỗng có người của ông Lê Trực ở Thanh Thủy đưa tới cho ông một bức thư, trong đó có cả tờ chiếu mà ông đang nóng lòng chờ đợi. Chưa đọc thư vội, Lê Mô Khởi đọc ngay tờ chiếu, trong đó có đoạn:…Bách quan, khanh sĩ, không kể lớn nhỏ, tất không bỏ xa trẫm. Kẻ trí hiến mưu kế, người dũng hiến sức lực, kẻ giàu có bỏ của ra giúp quân nhu, đồng bào, đồng trạch chẳng từ gian hiểm… Cứu nguy, chống đỡ, mở chỗ nguy khốn, giúp nơi bức bách đều không tiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng trời giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an, thu lại bờ cõi, chính là cơ hội này! Phúc cho tôn xã là phúc của thần dân!…

Hưởng ứng chiếu Cần Vương và lời động viên của người bạn cùng chí hướng Lê Trực, ông Lê Mô Khởi đứng ra kêu gọi nhân dân, trước hết là người Cao Lao Hạ, rồi đến các làng trong vùng sông Son, hạ lưu sông Gianh, họp thành đội nghĩa quân, lấy làng Cao Lao Hạ làm chỗ xây dựng đầu tiên. Rất nhiều trang thanh niên, võ sĩ, nhiều cai cơ, quan võ trong hàng ngũ quân đội triều đình trước đây đến tụ nghĩa, trong đó có các ông Lê Quang Chương, Lê Văn Ngôn, Lê Văn Gia, Lê Quang Chánh…

Nhân dân trong vùng sông Son và hạ lưu sông Gianh hướng về nghĩa quân của Lê Mô Khởi, đóng góp rất nhiều công sức, tiền của, lúa gạo, không tiếc một thứ gì. Không những giúp đỡ bằng vật chất theo mùa vụ, theo hiện hữu trước mắt mà nhân dân còn giúp nghĩa quân khai phá ruộng đất trồng trọt, cấy lúa xung quanh vùng căn cứ Trại Nái, nơi nghĩa quân Lê Mô Khởi đóng đại bản doanh để tính kế lâu dài.

Lời bàn:

Cứ theo nội dung của giai thoại này thì thời điểm mà Lê Mô Khởi bước chân vào hoạn lộ cũng chính là lúc vận nước đang trong hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc”. Là một nhà nho có chí khí, giàu lòng yêu nước, ông ra làm quan với lòng thiết tha mong muốn đem lại những điều sở đắc của mình giúp dân, giúp nước. Nhưng trước thực tế chế độ phong kiến đã suy tàn, thực dân Pháp ngày càng xâm lấn nước ta, Lê Mô Khởi đã đặt tình yêu Tổ quốc lên trên hết, nhất là trước nạn xâm lăng của thực dân Pháp. Vì vậy, ông luôn nghĩ đến Tổ quốc, đến độc lập dân tộc, trách nhiệm của một người dân, của một văn thân là phải ra gánh vác, không được xa rời vị trí, không được quên đất nước.

Khi đứng trước ba đại họa là nền chính trị phong kiến lỗi thời, kinh tế – xã hội suy thoái, độc lập dân tộc đứng trước thử thách tồn vong, Lê Mô Khởi đã tạm gác những đại họa nội trị để liên minh dưới ngọn cờ Cần Vương. Vì vậy, mặc dù phải sống và chiến đấu trong điều kiện gian lao, vất vả chốn rừng sâu nhưng ông không hề nao núng. Và ông đã thể hiện sự tận trung, dũng cảm, hết lòng vì nước, vì dân.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Danh sĩ Phùng Khắc Khoan

Phùng Khắc Khoan sinh năm 1528 tại làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, [...]

Khí phách Đại Việt

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, trước khi chuẩn bị kéo quân sang [...]

Bản lĩnh của sứ thần Đại Việt

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Công bộ Tả thị lang Giang Văn [...]

Trách nhiệm của hậu thế

BP -Theo sách “Đại Việt thông sử”, trước tình thế quân Minh đang bị nghĩa [...]

Danh không chính…

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, sau khi đánh tan đội quân của [...]

Chuyện về Lê Bang Cơ

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Nhân Tông (1441-1459) là vị vua [...]