Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, vào năm Tự Đức thứ hai mươi mốt, tức năm 1868, Nguyễn Tri Phương bị nghiêm phê lần thứ hai. Lần này, lý do trực tiếp là bởi ông đã tâu lên nhà vua một việc mà trước sau không ăn khớp với nhau. Cũng trong sách trên, quyển thứ 24 có đoạn chép về sự việc này của Nguyễn Tri Phương như sau:
– Bấy giờ, có viên quan ở bộ Công là Viên ngoại lang Nguyễn Văn Chất, trước từng giữ việc biện lý của bộ này, khi được cử ra Dương Xuân, vì quá nghe lời đồng liêu là Đoàn Trưng nên bị can tội – ý chỉ việc vua Tự Đức cho quan đốc thúc binh lính và dân phu xây Vạn Niên Cơ, khiến xảy ra cuộc nổi dậy do Đoàn Trưng chỉ huy. Khi Nguyễn Tri Phương mới về kinh đô nhận việc, ông hết lời chỉ trích Nguyễn Văn Chất và cho là kẻ xảo trá. Việc này đã khiến Nguyễn Văn Chất bị giáng chức. Đến khi Nguyễn Tri Phương về nhận việc ở bộ Công, ông lại cho Nguyễn Văn Chất là người làm được việc và còn xin đặc cách cân nhắc. Vì thế, nhà vua đã quở Nguyễn Tri Phương rằng:
– Trước thì ghét bỏ, nay thì thương yêu. Mới chỉ có một người và trong thời gian chưa lâu mà lời lẽ tâu bày trước sau đã khác, thế cũng đủ biết ngươi là người thế nào.
Nhưng Nguyễn Tri Phương không nhận ra được rằng, đó chẳng qua là vua răn bảo, cốt tác thành cho trọn vẹn hơn, nên đã tâu rằng:
– Đây hẳn là có người mật tâu, cốt để hại thần. Thần vốn bất tài ít học, lạm dự chức cao, thường lo nghĩ việc đền ơn nước. Phàm người thần tiến cử đều cốt ích lợi cho triều đình, không hề có ý riêng tư gì. Nhưng vì tính thần vốn cương trực nên có nhiều người ghét đó thôi. Thần từng bị giam cầm, tội cũ chưa chuộc hết, nay lại phạm thêm tội mới, vậy xin giao thần cho triều đình nghị tội. Xử tội mình thần mà khiến cho các bề tôi không công trạng gì lại bất chính và tham lam… trông vào mà sợ hãi, thế là hợp với sở nguyện của thần.
Nghe xong lời ấy, nhà vua cho rằng Nguyễn Tri Phương đã có sự lầm lẫn, nói năng không phải phép, bèn sai các quan ở Nội các và Đô sát viện cho người bày nghi trượng ở đại cung rồi sai các đình thần vâng chỉ mà xét hỏi. Đến lúc này, Nguyễn Tri Phương liền trình bày nguyên do tại sao mình lại tâu như vậy và xin tạ tội và được vua dụ rằng:
– Xưa nay, các bề tôi kỳ cựu biết một lòng vì nước, nếu không phạm lỗi lớn trẫm đều bao bọc, chẳng riêng gì khanh mà ai cũng vậy. Tình trẫm đối với khanh chẳng những dương gian mà cả âm phủ cũng đều rõ. Thần dân trong ngoài đều coi như thế là thái quá. Trẫm biết là khanh già lẫn, không chấp nhặt. Nhưng, nếu bỏ qua thì người đời sau sẽ vì không nắm vững mà chê vua tôi ta đủ điều, ai sẽ là người lo giải thích cho thiên hạ hiểu lòng trẫm?
Ngay sau đó, đình thần trong triều xin khép Nguyễn Tri Phương vào tội đối tấu thất lễ rồi giáng xuống hai cấp nhưng vẫn cho lưu lại chức cũ để làm việc ở bộ Công và vẫn được làm Cơ mật đại thần, lo việc phòng bị vùng biển và được phép dự bàn các việc của triều đình.
Lời bàn:
Ở đời ai cũng biết rằng “Nhân vô thập toàn”, tức là người ta không có ai là toàn vẹn cả, cũng như không có ai mà cả đời chẳng hề mắc một sai lầm nào dù là nhỏ. Song, điều quan trọng hơn là người có khuyết điểm có nhận biết được lỗi lầm hay không và khi đã nhận ra rồi thì sửa chữa như thế nào mà thôi. Và người xưa có câu “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người quay lại”. Nguyễn Tri Phương đã tiến cử Nguyễn Văn Chất với nhà vua, theo quan điểm này là vừa có tình lại vừa có lý. Tiếc rằng vua Tự Đức và các triều thần thời ấy có phần khắt khe với ông. Tuy nhiên, cây ngay không sợ chết đứng, tất cả những điều ấy không hề làm phai mờ sự tôn kính của nhân dân về lòng dũng cảm, ý chí quyết chiến chống thực dân Pháp của Nguyễn Tri Phương.
Tấm gương về lòng trung thành và sự hy sinh anh dũng của ông sẽ được lưu danh muôn thuở. Tiếc rằng hậu thế không có mấy người noi gương ông, mà ngược lại họ thích cách làm, cách nghĩ của vua quan nhà Nguyễn thời đó đối với lỗi lầm của người khác. Bởi thế cho nên ở đâu đó nếu có ai mắc sai lầm hay thiếu khuyết điểm gì thì y như rằng sẽ có người lôi kéo kẻ khác cùng a dua để ra sức dìm người ta xuống. Thậm chí có người bản thân thì lọ lem, nhưng hễ cứ thấy chỗ nào có nước đục là họ sẵn sàng đưa cả hai chân và nhúng cả hai tay vào khoắng cho đục thêm. Vậy nhưng xin hậu thế đừng bao giờ quên rằng trong cuộc sống không phải chỗ nào và ở đâu cũng đều “đục nước là béo cò”.
NV


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Thượng tướng Trần Khát Chân
Trần Khát Chân là người thuộc dòng dõi của Trần Bình Trọng, quê ở Hà [...]
Th3
Tài sắc vẹn toàn
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, trước khi về cộng tác với nhà [...]
Th3
Chuyện về Trần Khát Chân
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Trần Khát Chân là người ở Hà [...]
Th3
Chuyện về Tùng Thiện Vương
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Tùng Thiện Vương có tên chữ là [...]
Th3
Thái phó Lê Văn Linh
Theo sách “Đại Việt thông sử”, Lê Văn Linh sinh năm Đinh Tỵ (1377) tại [...]
Th3
3 ngày làm vua
Triều đình nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã [...]
Th3