Theo sách “Đại Nam liệt truyện”, Võ Trọng Bình, tự Sư Án, sinh năm 1808 và mất năm 1898. Ông là đại thần nhà Nguyễn và làm quan trải 9 đời vua. Tuy là một trọng thần của nhiều đời vua nhà Nguyễn, nhưng sử sách biên chép thân thế và sự nghiệp của ông không nhiều. Theo gia phả của tộc Võ ở Quảng Bình, ông sinh tại làng Mỹ Lộc, xã An Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, đỗ cử nhân năm 1834 và bắt đầu làm quan kể từ đấy.
Minh họa:S.H
Ông giỏi thơ văn và việc chính trị nên thăng dần lên chức Phủ doãn Thừa Thiên, rồi Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội – Ninh Bình), kiêm chức Tuyên Thái Lạng quân thứ khâm sai đại thần, để hội với quan Đề đốc tỉnh Quảng Tây là Phùng Tử Tài đi đánh Ngô Côn. Năm 1866, ông được cử làm Hiệp biện Đại học sĩ. Năm 1865, cuộc nổi dậy do Tạ Văn Phụng cầm đầu ở Quảng Yên bị quân nhà Nguyễn đánh dẹp gần xong, thì ở mạn Cao Bằng đã có giặc khách đánh lấy tỉnh thành. Võ Trọng Bình và quan tuần phủ Phạm Chi Hương đem binh lên Lạng Sơn rồi chia quân đi đánh các nơi, đến tháng 3-1866, tướng giặc là Trương Cận Bang xin hàng và thu phục lại được thành Cao Bằng. Sau đó, Nguyễn Tri Phương và Võ Trọng Bình được triều đình điều về kinh thành Phú Xuân để coi việc triều chính.
Năm 1874, ông được cử làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên (Sơn Tây – Hưng Hóa – Tuyên Quang), sau đó là Tổng đốc Định An. Năm 1883, ông giữ chức Tổng đốc Nam Định khi đã 75 tuổi. Ngày 27-3 năm ấy, Đại tá Pháp là Henri Rivière dẫn quân tấn công thành trì do ông trấn giữ. Quân nhà Nguyễn kháng cự kịch liệt, viên Trung tá Pháp tên Carreau tử trận, nhưng đến trưa thì thành vẫn bị chọc thủng và mất vào tay đối phương. Sau trận thua này, Hoàng Tá Viêm bị giáng chức, còn ông và các quan lại có trách nhiệm khác đều bị bãi.
Về sau, ông được khởi phục làm Thượng thư bộ Hộ, sung Cơ mật viện đại thần và sau đó lại chuyển sang làm Thượng thư ở bộ Hình, điền khuyến ở bộ Lễ. Nhưng thực dân Pháp không đồng ý vì Võ Trọng Bình đã đánh Pháp ở Nam Định năm 1883. Nhân đó, Võ Trọng Bình dâng sớ xin về hưu. Năm 1886, lúc này ông đã về hưu ở Hòa Luật (Lệ Thủy, Quảng Bình), nhưng khi Đề đốc Lê Trực hưởng ứng dụ Cần Vương, mộ quân kháng Pháp, ông cũng đưa đến 200 quân do ông chiêu tập được.
Ngoài đảm nhiệm những việc quân nói trên, trong những năm tháng làm quan tại triều đình, ông còn từng được triều đình giao làm chủ khảo các kỳ thi Hương, Hội. Vào năm 1898, đời vua Thành Thái, ông mất tại quê nhà (Quảng Bình), thọ 90 tuổi. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” có chép về 2 lời tâu của ông:
Lần thứ nhất, vào năm 1866, khi đó đất nước hết sức rối ren. Ở phía Nam, thực dân Pháp đã lấy hết 3 tỉnh miền Đông và đang muốn tiến chiếm 3 tỉnh miền Tây còn lại. Ở miền Bắc, thì bọn phỉ người Trung Quốc thường xuyên sang cướp phá… Bởi vậy, sức người, sức của phải huy động ngày một nhiều. Trước tình cảnh này, Võ Trọng Bình với chức vị Hiệp biện đại học sĩ, đã tâu lên vua Tự Đức rằng: Thành trì là chỗ hiểm hữu hình, còn lòng người là chỗ hiểm vô hình. Dân đã mệt mỏi từ lâu rồi, không thể chịu thêm lực địch và phí tổn được nữa. Nhưng nghe qua lời tâu ấy của ông, thay vì vua Tự Đức lo củng cố lòng dân và giảm bớt gánh nặng cho dân thì lại lo củng cố thành trì…
Lần thứ hai, vào năm 1880, lúc ấy, quan quân Bắc kỳ vừa phải đương đầu với bọn phỉ Trung Quốc, vừa đối phó với thực dân Pháp. Trước tình hình vô cùng căng thẳng, vua Tự Đức cho triệu ông vào hỏi việc biên cương phía Bắc, nhân đó hỏi rằng: Khanh trị dân như thế nào mà được dân tin yêu? Võ Trọng Bình thưa: Thần không dung túng cho quan lại dưới quyền, nghiêm bắt bọn trộm cướp và sức cho phủ huyện rằng, hết thảy các việc kiện tụng không được để lâu. Thuế của dân hằng năm thì tự mình phải biết châm chước chiếu cố, mệnh lệnh phải rõ ràng.
Lời bàn:
Theo các tài liệu lịch sử còn lưu lại đến ngày nay cho thấy, cả cuộc đời và sự nghiệp hơn 60 năm làm quan, Võ Trọng Bình là người nổi tiếng có tính cương trực, thanh liêm và biết quý trọng dân. Chính trong lời tâu lần thứ nhất trong giai thoại này đã thể hiện rõ ông coi trọng dân và xem lòng dân là chỗ hiểm yếu, người cầm quân mà không bám được vào chỗ hiểm này thì không thể thắng đối phương. Vì thế theo ông việc lo đắp thành cao, đào hào sâu mà không chú trọng bồi bổ sức dân, cũng có nghĩa là tự mình chuốc lấy thất bại. Với lời tâu trong lần thứ hai của ông thì người làm quan thời nào cũng phải biết, bởi tất cả điều ấy đã được các bậc thánh hiền, các bậc tiền nhân viết ra trong sách vở.
Cả một đời hành động cương trực, sống biết lo cho việc an dân, giữ gìn giang sơn xã tắc, Võ Trọng Bình không những được người đương thời ngưỡng mộ, mà cả hậu thế cũng tôn vinh, kính phục và sử sách lưu truyền. Thế mới hay rằng, làm quan thời nào cũng vậy, triều đại nào cũng có luật pháp, còn kinh nghiệm thì đã có thánh hiền và tiền nhân ghi lại trong sử sách. Song, việc ấy chẳng những không phải dễ mà còn vô cùng khó, khó là ở cái tâm của người làm quan khi vận dụng sách vở để giải quyết những vụ việc diễn ra trong thực tiễn cuộc sống.
ND


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Sứ giả can trường
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Biểu là một vị tướng giỏi [...]
Th3
Bẽ mặt “thiên triều”
Chuyện xưa kể lại rằng, khi Nguyễn Đăng Cảo ra làm quan, nhưng tính ngang [...]
Th3
Bản lĩnh Trương Trọng
Theo sách Cổ Kim thuận ngôn (những lời nói hay xưa nay) của tác giả [...]
Th3
Nữ tướng Trần Thị Lan
Theo sách “Đại Việt thông sử”, Trần Thị Lan người thôn Trường Định, huyện Tuy [...]
Th3
Kẻ gian xảo!
Chuyện xưa kể lại rằng, vào một ngày nọ, có ông thương gia đi qua [...]
Th3
Cử nhân chấm thi tiến sĩ
BP- Nhữ Bá Sĩ là một nhà thơ, nhà văn Việt Nam ở thế kỷ [...]
Th3