Mối tình trắc trở

Lương Thế Vinh còn gọi là Trạng Lường, tên tự là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên. Quê ông ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản, trấn Sơn Nam (nay là thôn Cao Phương, xã Liên Bảo, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Từ nhỏ Lương Thế Vinh đã nổi tiếng về khả năng học mau thuộc, nhanh hiểu và khả năng sáng tạo trong các trò chơi như đá bóng, thả diều, câu cá, bẫy chim.

Năm 1463, Lương Thế Vinh đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ nhất danh (trạng nguyên) khoa Quý Mùi, niên hiệu Quang Thuận thứ 4, đời Lê Thánh Tông. Ông là nhà Toán học, Phật học, nhà thơ Việt Nam thời Lê Sơ. Dưới triều vua Lê Thánh Tông, ông làm quan tại Viện Hàn lâm. Ông là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàn do vua Lê Thánh Tông lập năm 1495. Lương Thế Vinh cũng được gắn một vài giai thoại với vua quan nhà Lê. Các giai thoại này cho thấy ông ứng đáp thông minh với vua, có các lời khuyên hợp lý cho vua và răn dạy các quan dưới cấp bỏ thói hách dịch nhân dân.

Trong cuốn sách Trạng Lường Lương Thế Vinh do nhà nghiên cứu Bùi Văn Tam thực hiện, có ghi: Đêm đêm, hễ làng nào trong vùng trống chèo nổi lên là có mặt Lương Thế Vinh. Do quá ham thích, thời trẻ Lương Thế Vinh đã bỏ nhà đi theo một phường hát chèo. Cậu say sưa học thêm cách sử dụng các nhạc cụ dân tộc, biết đánh trống chèo, lại thuộc nhiều làn điệu dân ca, múa chèo. Cha cậu đã phải đi tìm, xin cho cậu về tiếp tục đi học.

Từ sự ham mê hát chèo đã đưa Lương Thế Vinh đến với mối tình đầu có kết thúc buồn. Theo cuốn sách “Những mối tình nổi tiếng trong truyền thuyết và lịch sử Việt Nam” có đoạn viết rằng: Năm 20 tuổi, hội xuân làng Si (ở gần làng Lương Thế Vinh) có gánh chèo nổi tiếng với cô đào chính là người đang rất được nhân dân trong vùng mến mộ. Lương Thế Vinh đến đình làng Si đã muộn nhưng buổi diễn vẫn chưa bắt đầu vì tay chơi đàn nhị của gánh hát đột nhiên bị ốm, chưa có người thay thế. Nghe vậy, Lương Thế Vinh bèn chen qua đám đông vào xin chơi thay. Không có cách nào khác, gánh hát bèn chấp nhận. Nhưng chỉ một lúc sau, cả gánh hát lẫn người xem đã không còn băn khoăn về tay đàn. Vì tiếng đàn Lương Thế Vinh chơi rất thuần thục, lại ăn khớp với những lời hát của đào nương.

Trên chiếu chèo, cô đào dường như cũng diễn hay hơn bình thường vì cô biết người đang đệm đàn nhị cho mình diễn là anh học trò nổi tiếng cả vùng, cả trấn gọi là thần đồng. Tâm trạng phấn khởi, bất ngờ cô đổi sang điệu sử xuân, đôi mắt nhìn về phía Lương Thế Vinh thắm thiết: “Vâng ý chàng, thiếp xin thưa lại, xin chuyên cần tần tảo sớm khuya. Việc tề gia là phận nữ nhi…”.

Bên cây đàn nhị, Lương Thế Vinh cũng vừa đàn vừa hướng về đào nương trẻ cùng trang lứa với ánh mắt xao xuyến lạ lùng. Bỗng nhiên đào nương quay một vòng rồi chuyển sang hát điệu chức cẩm hồi văn, rằng: “Thiếp xin chàng đèn sách văn chương, dầu hao thiếp rót, bấc non thiếp ngắt, ngọn đèn tàn thiếp khêu…”. Cô đào trẻ sau buổi diễn cũng chủ động gặp Thế Vinh để nói lời cảm tạ. Hai tâm hồn như đã đồng điệu. Cô đào đã đem lòng yêu Thế Vinh, còn Thế Vinh cũng đã say men tình, muốn ngỏ lời ước hẹn mà cô gái không cho biết quê quán cũng như tên tuổi.

Năm 1463, Lương Thế Vinh thi đỗ trạng nguyên dưới triều Lê Thánh Tông. Nhớ người cũ nhưng chẳng có tin tức gì, lúc này cha mẹ Thế Vinh cũng muốn con yên bề gia thất nên giục chàng lập gia đình. Thế Vinh đã cưới con gái thầy dạy học. Trớ trêu thay, ngày ông vinh quy về làng, dân làng mở hội chúc mừng thì ông gặp cô đào năm nào với giọng hát sầu thảm khiến nhiều người nghe phải khóc. Sau buổi diễn, không ai thấy nàng đâu nữa.

Sáng hôm sau, người ta mới biết rằng nàng đã tự tử và để lại một bài thơ tuyệt mệnh. Nội dung bức thư cho biết, vì Thế Vinh đã lấy vợ, tủi phận mình nên nàng đã quyên sinh để vĩnh viễn mang theo mối tình đầu trong sáng.

Lời bàn:

Theo các tài liệu còn lưu lại đến ngày nay, Trạng Lường Lương Thế Vinh đã được các danh sĩ thời ấy đề cao như bậc tài danh hàng đầu. Ông không những giỏi Nho học mà còn giỏi cả Toán học nên mới có biệt danh Trạng Lường. Nhưng, ông cũng còn một cái thú đam mê khá sâu sắc nữa là hát chèo. Và cứ theo giai thoại trên thì không những mê chèo mà ông còn say men tình, muốn ngỏ lời ước hẹn với đào nương mà cô gái không cho biết quê quán cũng như tên tuổi. Cái chết của cô đào cũng là cái kết của một mối tình đẹp, nhưng đó là một cái kết không có hậu cho cả hai người.

Thế mới hay rằng không phải chỉ có thời nay mà ngay từ thời xưa, các bậc kỳ tài cũng vướng vào “lưới tình” để rồi phải ôm hận suốt đời, vì không dám bày tỏ tình cảm nên mất đi người yêu. Và có như thế mới là người xưa, bởi thời nay đạo đức thì ở quá xa và quá cao, còn việc đưa rồi nhận hối lộ tình dục thì chẳng ai khép tội được, nên có không ít người hễ chán “cơm” thì họ lại đi dùng “phở”. Và cũng chính vì thế nên mới có người dùng “vốn trời cho” làm lộ phí tiến thân. Và cũng lại có không ít kẻ vì hám “của lạ” nên gia đình li tán, rồi thân bại danh liệt. “Lưới tình” là vậy, với những ai chưa vướng thì xin đừng bao giờ thử!

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Giai thoại về Nguyễn Đăng

Nguyễn Đăng sinh năm 1576 tại làng Đại Toán, huyện Quế Dương, Kinh Bắc. Làng [...]

Lưỡng quốc Khôi nguyên

Nhà ngoại giao tài ba lại giỏi thơ văn và đối đáp thông minh, Nguyễn [...]

Cái chết bi thảm

Theo sách “Đại Việt thông sử”, sau khi đã giải phóng được toàn bộ khu [...]

Tổ sư của nhạc Việt

Theo sách “Đại Việt thông sử”, vào tháng 3-1435 có bảy tên trộm tái phạm [...]

“Nồi da nấu thịt”

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Phạm Quỳnh, Phạm Giao là người được Mạc Kính [...]

Triết lý của thành công

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Minh Triết là người làng Dược [...]