Gương hiếu nghĩa

Gương hiếu nghĩa

Lịch sử của nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở nước ta được ghi chép trong hai bộ sách lớn là “Đại Nam chính biên liệt truyện” và “Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập” do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn. Sách “Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập” do Cao Xuân Dục làm tổng tài và in xong vào năm 1889, dưới thời vua Khải Định, gồm 33 quyển.

Quyển 1 chép tiểu sử các hậu phi, quyển 2 về các hoàng tử, quyển 3 về các công chúa của Hưng Tổ (thân sinh của vua Gia Long). Các bề tôi của Gia Long, kể cả bề tôi họ vua được ghi chép từ quyển thứ 4 đến quyển 28. Quyển thứ 29 là Hạnh nghĩa kiệt truyện (ghi lại tiểu sử một số người có đức hạnh, tiết nghĩa) và Liệt nữ liệt truyện (những phụ nữ tiết liệt). Quyển thứ 30 là “Nguỵ” Tây liệt truyện, ghi về tiểu sử 3 anh em họ Nguyễn Tây Sơn, địch thủ số một của nhà Nguyễn. Quyển 31, 32 và 33 là Liệt truyện về ngoại quốc: Cao Miên (quyển 31), Xiêm La, Thủy Xá, Hỏa Xá (quyển 32), Miến Điện, Chiêm Thành, Vạn Tượng (quyển 33).

Trong bộ “Đại Nam chính biên liệt truyện nhị tập” đã dành trọn quyển thứ 29 để ghi chép về những nhân vật được coi là hạnh nghĩa (những người nổi danh là có đức hạnh và tiết nghĩa). Trong quyển này có chép về chuyện Tô Thế Mỹ, với nội dung như sau: Tô Thế Mỹ sinh và mất năm nào không rõ, sách chỉ cho biết ông sống vào giữa thế kỷ XIX, là người tỉnh Bình Định. Nhờ được đi học, Tô Thế Mỹ biết chút ít chữ nghĩa nhưng ông không tham gia thi cử. Khi học được câu: “Thờ cha mẹ phải lấy sự kính trọng và sự theo điều phải làm đạo lớn”, ông cảm thấy thấm thía và từ đó trở nên hiếu thảo. Sách trên chép rằng:

– Người cha của Tô Thế Mỹ có tính nóng nảy, hay cãi cọ, tranh giành với mọi người, cho nên Tô Thế Mỹ thường phải dùng những lời dịu dàng để ngăn cản. Một hôm, cha ông có chuyện xích mích với hàng xóm và đã vác gậy ra tính đánh nhau, Tô Thế Mỹ thấy vậy vừa ôm lấy cha vừa kêu khóc, vừa khéo léo nói với người hàng xóm, khiến họ cũng xuôi tai mà thôi.

Người mẹ của Tô Thế Mỹ thì tính tình rất hà tiện. Mỗi khi vào bữa, bà liền hỏi giá tiền các thứ thức ăn, hễ bữa nào thấy có hơi chất tươi, béo là bỏ đũa xuống không ăn vì sợ tốn. Bởi thế, Tô Thế Mỹ phải bảo nhỏ với vợ con là đừng kể thật giá thức ăn với mẹ mà cứ nói hạ xuống, ông lại thưa cùng mẹ rằng:

– Con nhờ có cơ nghiệp sẵn, lại cũng cần cù làm lụng, cho nên cái ăn cái mặc trong nhà không đến nỗi thiếu thốn.

Khi người cha bị bệnh, việc cơm áo thuốc men đều tự tay Tô Thế Mỹ trông coi, tận tụy chăm sóc đến quên ăn quên ngủ. Khi người cha mất, ông đem táng ở núi. Nơi ấy có nhiều cọp, Tô Thế Mỹ liền khiêng đá đắp thành mộ rồi làm nhà ở đó đúng ba năm, cọp vẫn thường đi ngang qua nhưng không hề làm hại ông.

Sau đến lượt mẹ ông bị bệnh, bà dặn rằng, đừng làm như trước (tức là đừng làm nhà canh mộ như đã làm với cha ông) khiến phải bỏ bê công việc và khổ lụy đến con cháu. Nhưng khi mẹ mất, ông lại hợp táng bên cạnh mộ cha rồi làm nhà ở đó canh mộ đến ba năm, củi nước đều tự tìm lấy mà dùng, vất vả lại thêm xót thương quá mà lâm bệnh. Người làng thấy thương và đưa ông về. Năm ấy ông 38 tuổi. Năm Tự Đức thứ hai mươi (tức năm Kỷ Mùi – 1859), nhà vua biết được việc này và xuống chiếu khen ông là người con có hiếu, rồi ban cho tấm biển vàng cùng nhiều tiền thưởng.

Lời bàn:

Trong lịch sử nhân loại từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đã có biết bao tấm gương con cháu hiếu nghĩa với ông bà, cha mẹ nhưng người có tấm lòng như Tô Thế Mỹ quả là vô cùng hiếm. Và cũng từ nội dung của giai thoại trên đây cho thấy, đã là con người phải có ăn, có uống mới tồn tại được. Song, trong mỗi bữa ăn không chỉ đơn giản và bình thường là sự nhai nuốt lương thực với thực phẩm, mà còn có thứ quan trọng hơn cả thức ăn và nước uống, là không khí vui vẻ, sự hòa thuận và chan chứa tình yêu thương, đầm ấm.

Thế mới hay rằng, vì mục đích tốt đẹp thì đôi khi lời nói không trung thực chưa hẳn đã là xấu và thậm chí còn rất cần. Và người xưa truyền lại giai thoại này ắt không phải để cho hậu thế làm theo những hủ tục vô cùng lạc hậu, mà điều tiền nhân mong muốn ở hậu thế rằng đã làm người thì phải biết sống có hiếu, có nghĩa và cái đạo ấy phải phù hợp với thời đại, với xã hội đương thời.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bản làng lưu danh

Cuối năm 1889, Đốc Thiết phối hợp với một số thủ lĩnh phong trào Cần [...]

Nữ sĩ lơ mơ… chốn pháp đình

Tuy nổi tiếng là một nhà thơ chặt chẽ vô cùng về niêm luật, nhưng [...]

Nhà ngoại giao tài ba

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Ngô Thì Nhậm còn còn tên gọi [...]

Nữ tướng thời Tây Sơn

Theo sách “Đại Việt thông sử”, vào thời hậu Lê có hai nữ tướng tài [...]

Bản án vua Duy Tân

Cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp do Việt Nam Quang Phục Hội chủ xướng [...]

Mưu mô xảo trá

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vua Lê Thái Tông mất khi mới [...]