Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Đăng Đạo sinh năm 1651, người xã Hoài Bão (có tục danh là làng Bịu), tổng Nội Duệ (nay là xã Liên Bão, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh). Thân phụ ông là tiến sĩ Nguyễn Đăng Minh, giữ chức Quốc Tử Giám tế tửu trong triều Lê. Ông còn là cháu ruột của Thám hoa Nguyễn Đăng Cảo và là em trai Nguyễn Đăng Tuân. Ngay từ nhỏ ông đã nổi tiếng thông minh, hoạt bát.
Lúc mới 1 tuổi, Nguyễn Đăng Đạo thường được bác ruột là Nguyễn Đăng Cảo rất yêu quý, lúc nào cũng theo bên cạnh hoặc bế đi chơi và thường nói khoe với mọi người về Nguyễn Đăng Đạo rằng: Triều đình ghét ta không cho đỗ trạng nguyên, nhưng còn thằng bé này ngày sau không cho nó đỗ là không được đâu! Khi lên 3 tuổi, ông lại được bác Nguyễn Đăng Cảo cho theo lên biên giới nhân một chuyến đi tiếp sứ nhà Thanh. Sứ nhà Thanh có lần trông thấy Đăng Đạo còn nhỏ tuổi rất lấy làm kinh ngạc, sứ liền nói rằng: Bé như vậy mà đã vượt qua trăm núi ngàn sông lam chướng hiểm trở, vẫn nhanh nhẹn, tháo vát, thật là kỳ đồng.
Lên 1 tuổi, Đăng Đạo được gia đình cho đi học và ông nổi tiếng thông minh, nghịch ngợm và học giỏi. Đường đi học phải qua Cầu Trợ (tục gọi là Cầu Giếng). Gặp những hôm trời rét nhiều, Đăng Đạo thường phải vào cầu trú chân đỡ rét. Cho đến nay, ở quê ông vẫn còn lưu truyền câu chuyện về cuộc đối đáp giữa ông và viên quan huyện Tiên Du. Một hôm, quan huyện đi qua thấy ông đang nằm trong cầu trú rét mà không dậy chào, cho là vô lễ quan huyện bèn tức giận hỏi: Mày là đứa nào mà thấy quan không dậy chào hỏi?
Ông ngẩng đầu lên đáp: Tôi là học trò.
Nghe vậy, quan huyện nói: Nếu phải là học trò dòng dõi nhà nho trong huyện này hãy ngồi dậy làm thử một bài thơ Nôm tả cảnh trời rét xem có được không?
Nguyễn Đăng Đạo trả lời: Tôi làm được.
Nói rồi ông suy nghĩ chỉ trong một lúc và ngồi dậy đọc ngay một bài thơ, với nội dung như sau:
Phù phù gió thổi bụi đường quan
Rét phải nằm co há có cuồng
Cá chửa giương vây miền Bắc Hải
Rồng còn uốn khúc bài Nam dương
Cất đầu ngoảnh lại càn khôn đế
Cuốn gió mang chào cảnh thổ vương
Bĩ cực đã rồi thì đến thái
Sang xuân đầm ấm sẽ thung dung
Quan huyện nghe xong hết lời khen ngợi nói ông đến kỳ thi tới thế nào cũng chiếm bảng vàng.
Trên đường đi học, Nguyễn Đăng Đạo cũng thường ngang qua chùa Phật Tích. Chùa nằm trên núi Lạn Kha do vua Anh Tông nhà Lý dựng lên. Chính trong thời kỳ Lê Trung này, vị sư Trung Hoa Chuyết Công thiền sư, người đã từng đi thuyền vượt bể chở hơn ba vạn quyển kinh Tam Tạng sang nước Nam, lên núi Lạn Kha bỗng như hiểu ra điều gì đã nhận làm sư trụ trì ở chùa Phật Tích. Nhà sư rất yêu quý Nguyễn Đăng Đạo, mỗi khi ông qua chùa, nhà sư thường lấy trầu cau ra mời. Một hôm, Nguyễn Đăng Đạo đùa, lấy hộp trầu cau ra, viết một chữ “Hiến” vào dưới đáy hộp rồi đi học. Lúc ông trở về, sư đón đường mời vào và bảo rằng:
Đó là chữ “Nam” và chữ “Khuyển” hợp lại. Ta vốn biết nhà thầy sẽ là Trạng nguyên của nước Nam, nhưng thầy có muốn nổi tiếng cả ở triều đình nhà Thanh hay không?
Nguyễn Đăng Đạo nghe xong giật mình sụp lạy, xin sư dạy bảo cho. Rồi nhà sư trao cho ông một quyển sách mà dặn rằng: Đó là một quyển sách bí mật, khoảng năm Sùng Trinh Thuận trị (niên đại Trung Hoa) bản in bị cháy, nhà thầy nên đọc kỹ sẽ thành tài. Nhờ vậy, Nguyễn Đăng Đạo vốn đã thông minh lại càng trở lên thông minh, biết được nhiều điều vượt ra ngoài ý nghĩa của đời thường.
Lời bàn:
Theo các tài liệu lịch sử còn lưu truyền đến ngày nay, dòng họ Nguyễn Đăng là một dòng họ nổi tiếng vùng Kinh Bắc xưa, có nhiều đời ông cha, bác cháu anh em đều đỗ đạt và làm quan với quyền cao chức trọng trong triều. Từ năm 1443 đến năm 1918, trong khoảng 475 năm, dòng họ này có 91 người đỗ đạt, trong đó 6 tiến sĩ, thám hoa và trạng nguyên, 7 giám sinh, 25 hiệu sinh, 2 tú tài, 5 thiếu khanh, tổng giáo và huyện thừa. Đây quả là một dòng họ có truyền thống học hành đỗ đạt kỳ diệu. Dòng họ này đã được xếp vào hạng “Tứ gia vọng tộc” – bốn dòng họ nổi danh khoa bảng và hiển đạt của đất Kinh Bắc xưa.
Với Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, ông là một nhà khoa bảng có tài, một trí thức nổi danh, một đỉnh cao rực rỡ nhất của dòng họ Nguyễn Đăng nói riêng và vùng Kinh Bắc thời ấy nói chung. Chỉ với câu đối do đích thân vua Lê viết để ban tặng cho vị lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo cũng đã quá đủ để nói nên tài năng của ông: Tiến sĩ thượng thư thiên hạ hữu/ Trạng nguyên tể tướng thế gian vô. Nghĩa là: Tiến sĩ làm thượng thư thế gian có nhiều/ Trạng nguyên làm tể tướng thì thế gian không. Từ giai thoại trên, hậu thế nghĩ gì về việc đèn sách của mình và trách nhiệm đối với dòng họ, quê hương?
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
“Thiên triều” chào thua
Sau khi được phong vương, vua Quang Trung vẫn thoái thác không chịu nhận lời [...]
Th3
Chuyện về Nguyễn Khuyến
Năm 1902, vua Thành Thái tuần du Bắc Hà kết hợp với việc làm lễ [...]
Th3
Mối tình đẹp như mơ
Nguyễn Đăng Đạo vốn đã nổi danh trong lịch sử với tài năng ứng biến [...]
Th3
“Gian quân”
Lê Chiêu Thống tên thật là Lê Duy Khiêm, khi lên ngôi lại đổi tên [...]
Th3
3 tháng làm vua
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Mạc Kính Chỉ là vua nhà Mạc [...]
Th3
Quy luật muôn đời
Theo sách “Đại Việt thông sử”, sau khi Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu [...]
Th3