Theo các tài liệu lịch sử còn lưu truyền đến nay thì vào thời phong kiến, mỗi chuyến đi sứ của các sứ thần Đại Việt đến Trung Quốc thường kéo dài từ một đến hai năm. Song, cũng có chuyến đi sứ dài kỷ lục được ghi chép trong lịch sử phong kiến nước ta là chuyến đi của sứ thần Lê Quang Bí năm 1548, thời nhà Mạc. Lê Quang Bí sinh năm 1506, quê ở làng Mộ Trạch, huyện Đường An, tỉnh Hải Dương. Năm 42 tuổi (1548), ông được cử đi sứ nhà Minh. Nhiệm vụ của sứ đoàn chỉ là nộp cống, nhưng nhà Minh nghi ngờ ông là sứ thần giả mạo nên giam lỏng trong nhiều năm. Mãi 18 năm sau, Lê Quang Bí mới được trở về. Khi đi, ông đang ở tuổi tứ thập, khi trở về, ông đã trở thành một ông lão 60, đầu râu tóc bạc. Đây là chuyến đi sứ dài nhất của các triều đại phong kiến ở nước ta.
Chuyến đi sứ bi tráng nhất: Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, chuyến đi của Giang Văn Minh vào 1573-1638 là sứ thần duy nhất của Đại Việt bị triều đình phương Bắc giết hại khi ông thực hiện sứ mệnh ngoại giao của mình. Cũng theo sách này, khi Giang Văn Minh vào triều kiến vua nhà Minh lúc đó đã ngạo mạn ra cho ông vế đối với nội dung rằng: Đồng trụ chí kim đài dĩ lục. Nghĩa của vế đối này là đồng trụ (trụ đồng) đến giờ rêu vẫn mọc. Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó đã cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ, tức Đại Việt sẽ bị diệt vong).
Trước sự ngạo mạn, hống hách đó của vua nhà Minh, sứ thần Đại Việt Giang Văn Minh đã hiên ngang đối lại bằng câu: Đằng Giang tự cổ huyết do hồng. Nghĩa là Bạch Đằng giang thuở trước máu vẫn còn loang. Vế đối này vừa chỉnh, vừa có ý nhắc lại cho vua quan nhà Minh đừng bao giờ quên rằng, việc quân dân nước Đại Việt đã từng ba lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng. Nghe xong vế đối của sứ thần Giang Văn Minh, vua nhà Minh nổi giận quên mất thể diện thiên triều, bất chấp luật lệ bang giao mà trả thù bằng cách trám đường vào miệng và mắt ông, rồi cho người mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Khi thi hài của ông về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng đã đến bái kiến linh cữu ông và phong là “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng” (Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng bất diệt).
Vị sứ thần già nhất: Sau trận Ngọc Hồi – Đống Đa, vào năm 1790, Nhữ Trọng Thai được vua Quang Trung cử đi cùng đoàn với người đóng giả ngài là Phạm Công Trị sang nhà Thanh để mừng thọ vua Càn Long và thụ phong làm An Nam quốc vương. Vào thời điểm đó, Nhữ Trọng Thai đã 95 tuổi. Việc ông vượt ngàn dặm để đến kinh đô Trung Quốc và quay về nước trong điều kiện của 2 thế kỷ trước quả là một kỳ tích phi thường.
Vị sứ thần tướng mạo xấu xí, nhưng trí tuệ siêu phàm: Mạc Đĩnh Chi, tự là Tiết Phu, người làng Lũng Động, Chí Linh (nay là huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương). Bẩm sinh ông tướng mạo xấu xí, vì người lùn, da đen, miệng rộng, mũi tẹt, trán dô… người làng thường bảo đó là con khỉ tinh nghiệm vào. Trái với vẻ ngoài thô kệch đó, ông là người có trí tuệ kiệt xuất, được coi là thần đồng từ thuở nhỏ. Khi Mạc Đĩnh Chi đi sứ sang nhà Nguyên, vẻ ngoài của ông khiến quan lại phương Bắc không ít lần tỏ ý khinh thường. Song, tài trí của ông đã khiến họ phải kính phục và phong ông là “Lưỡng quốc trạng nguyên”.
Lời bàn:
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, từ năm 938, sau khi Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán rồi xưng vương lập quốc, nước Nam đã trở thành một quốc gia độc lập. Song, vì sự an nguy của trăm họ, các triều đại từ Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê và cả nhà Nguyễn sau này đều rất khôn khéo trong việc bang giao với nước lớn ở phương Bắc nhằm tránh họa đao binh. Vì vậy, việc thực hiện đường lối ngoại giao giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nêu cao chính nghĩa, hòa hiếu là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn của những nhà ngoại giao Đại Việt dưới thời phong kiến. Do đó, những quan lại được cử làm ngoại giao, lập sứ hay đi sứ đều là những quan lại giỏi, “trí dũng song toàn”. Và thực tế cho thấy, những nhà ngoại giao Đại Việt đã làm tròn trọng trách của mình là người đại diện cho một quốc gia văn hiến và luôn chứng tỏ cho thiên triều biết nước ta cũng là một nước văn hiến không kém gì thượng quốc. Hơn nữa, với sứ thần Giang Văn Minh, ông còn tỏ rõ tinh thần dũng cảm và thông minh, không chịu khuất phục trước uy vũ của quân thù để bảo vệ danh dự của Tổ quốc.
Khi quan tài của ông được đưa về nước, vua Lê Thần Tông đứng trước linh cữu mà than rằng: Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng. Nghĩa là: Đi sứ không trái mệnh vua, không để nhục nước, xứng đáng anh hùng thiên cổ. Vì thế, dù đã 377 năm kể từ ngày sứ thần Giang Văn Minh bị sát hại một cách hèn nhát của vua Sùng Trinh nhà Minh, song bản lĩnh, phẩm chất cao đẹp ấy của ông vẫn còn là những bài học bổ ích, cần thiết cho các nhà ngoại giao ngày nay. Và cuộc đời, tên tuổi cũng như sự nghiệp của ông sẽ còn sống mãi với người dân và non sông đất Việt.
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Vinh nhục cận kề
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Thái y viện của triều đình nhà [...]
Th3
Một giấc chiêm bao
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, tháng 3 năm Giáp Tuất (1394), Thượng [...]
Th3
Cái giá của sai lầm
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, trong cung đình nhà Trần thời vua [...]
Th3
Tấm gương trung nghĩa
Theo sách “Hội Di sản văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình”, quê quán của [...]
Th3
Xứng danh người thầy
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Nguyễn Đăng Tuân sinh năm Nhâm Thìn [...]
Th3
Bản lĩnh tri huyện
Theo sách “Quảng Nam Đất nước và Nhân vật”, Lê Vĩnh Khanh tên chữ là [...]
Th3