Trong đời sống của người Việt Nam xưa, câu đối có vị trí đặc biệt. Nó quen thuộc đến mức cả những người chưa được học chữ Hán, chữ Nôm, không biết luật bằng – trắc, nhưng mỗi khi thấy hai hàng chữ đặt song song với nhau ở những nơi tôn nghiêm cũng biết rằng đó là câu đối. Mỗi khi tết đến, xuân về dù nghèo đến mấy thì ông bà ngày xưa cũng cố mua một đôi câu đối về treo trước ngõ hoặc cửa nhà.
Câu đối là tiếng nói của tư tưởng, tâm hồn, tình cảm được thể hiện dưới một hình thức độc đáo, đậm chất trí tuệ. Vì thế, câu đối không chỉ được treo tại nơi trang trọng, mà còn có một cuộc sống sinh động trong đời sống xã hội, trong dân gian. Và người xưa còn mang câu đối tặng nhau một cách trọng thị như món quà biểu hiện tình cảm quý mến, tôn trọng giữa những người thân thiết. Cho đến ngày nay, giai thoại về câu đối trong dân gian còn rất nhiều. Trong từng giai thoại ấy, người đọc, người nghe ít nhiều cũng rút cho mình được một bài học hữu ích. Và giai thoại về sĩ tử Nguyễn Hòe là một ví dụ.
Chuyện kể rằng, vào khoảng cuối đời Lê, có sĩ tử tên Nguyễn Hòe, là một môn sinh rất sắc sảo, nhưng không ai biết rõ lai lịch của ông ra sao. Trong lần đi thi hương, viên quan chủ khảo năm ấy cũng tên là Hòe, vì thế khi xướng quyển người ta kiêng tên quan nên phải đọc chệch tên của sĩ tử này là Nguyễn Huề. Nguyễn Hòe nghe rõ và thừa biết, nhưng ông vẫn cố tình không chịu vào. Người xướng quyển xướng đi xướng lại mấy lần và mọi người đã vào hết, Nguyễn Hòe vẫn đeo ống quyển đứng yên tại chỗ. Cuối cùng, người xướng quyển chõ loa vào Hòe mà hỏi họ tên. Khi ấy, ông liền gào to: Tôi là thằng Hòe!
Người xướng hỏi vặn: Sao gọi mãi không chịu vào?
Ngay lúc đó, Nguyễn Hòe đáp: Tôi chỉ thấy quan gọi thằng Huề chứ có thấy gọi thằng Hòe đâu?
Sau đó, người xướng danh buộc phải xướng to đúng tên là Nguyễn Hòe, bấy giờ Hòe mới chịu vào. Vừa bước vào cửa trường thi, quan chủ khảo thấy Nguyễn Hòe là thí sinh bé oắt mà ương ngạnh, nên đã giữ lại để hỏi vặn nghĩa lý văn chương. Viên quan chủ khảo hỏi đến đâu, nhất nhất Nguyễn Hòe đều đối đáp trôi chảy đến đấy. Ngay lúc đó, viên quan chủ khảo liền ra một câu đối:
Lạn Tương Như, Tư Mã Tương Như, danh tương như, thực bất tương như. Nghĩa là: Lạn Tương Như, Tư Mã Tương Như, tuy hai người có tên như nhau nhưng thực chất chẳng như nhau (Lạn Tương Như là một nhân vật nổi tiếng thời Chiến quốc. Còn Tư Mã Tương Như là nhân vật nổi tiếng thời Hán). Ở câu đối này, người ra có ý lên giọng kẻ cả rằng hai đằng cùng tên Hòe, nhưng một đằng quan một đằng học trò, so bì với nhau sao được.
Hiểu rõ nội dung cũng như ý của người ra vế đối, Nguyễn Hòe liền đối:
Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, bỉ vô kỵ, ngã diệc vô kỵ. Nghĩa là: Ngụy Vô Kỵ, Trưởng tôn Vô Kỵ, ngươi không sợ thì ta cũng không sợ (Ngụy Vô Kỵ là người thời Chiến quốc. Còn Trưởng tôn Vô Kỵ là người thời Đường. Chữ Tương Như trong vế đối lại cũng vừa là tên người, mà lại vừa có nghĩa là “như nhau”, được Nguyễn Hòe đối rất chọi với chữ Vô Kỵ cũng vừa là tên người và cũng lại vừa có nghĩa là “không sợ”.
Quan chủ khảo thấy vế đối của Nguyễn Hòe có xấc xược, căm lắm nhưng cũng phải phục tài. Nhưng viên quan chủ khảo vẫn chưa chịu thua, mà ngay lúc đó đã ra một câu khác có ý khuyên răn rằng: Xỉ tính cương, thiệt tính nhu, cương tính bất như nhu tính cựu. Nghĩa là: Răng tính rắn, lưỡi tính mềm, tính rắn sao bằng tính mềm bền lâu. Ý là quan chủ khảo muốn khuyên Nguyễn Hòe rằng phải biết khôn ngoan, biết người biết ta thì mới thành công.
Nhưng Nguyễn Hòe nào chịu và liền đối lại ngay rằng: Mi sinh tiền, tu sinh hậu, tiền sinh bất nhược hậu sinh trường. Nghĩa là: Lông mày sinh trước, râu sinh sau, sinh trước chẳng bằng sinh sau dài. Ngụ ý bảo quan chủ khảo tuy đẻ trước nhưng dại, sao bằng đẻ sau mà khôn.
Đến đây, quan chủ khảo biết Hòe là tay thông minh mà bướng bỉnh nên không vặn vẹo gì nữa. Và Nguyễn Hòe đã đỗ thủ khoa kỳ thi Hương năm ấy.
Lời bàn:
Vẫn biết rằng đã là giai thoại thì không phải là sự thật hoàn toàn, thậm chí ngay cả nhân vật chính trong giai thoại có khi cũng là giả, là kết quả từ trí tưởng tượng của dân gian. Nhưng có điều ai cũng phải nhận rằng: Câu đối có khi là câu trả lời thể hiện rõ khí phách của một dân tộc không chịu khuất phục trước bất cứ thái độ hợm hĩnh của nước lớn ỷ thế là “thiên triều”. Cũng có khi câu đối là vũ khí phê phán sâu cay, mà kẻ nhận được phải bầm gan tím ruột khi người làm câu đối đọc đúng “tim đen”, điểm đúng “huyệt hiểm” của kẻ xấu. Và câu đối cũng có khi là vũ khí tinh thần của kẻ yếu thế – nhưng không yếu về trí tuệ, để chống lại cường quyền của kẻ mạnh hơn mình kể cả thế lực và vật chất.
Tuy nhiên trong giai thoại trên đây, câu đối của Nguyễn Hòe lại hoàn toàn khác. Vì nó là câu trả lời thông minh của tinh thần khảng khái, của ý chí kiên cường và một tấm lòng trong sáng yêu sự công bằng… để đối lại sự ức hiếp, đè nén, bất công… dù lớn dù nhỏ. Và có lẽ người xưa lưu truyền lại giai thoại này không ngoài mục đích là muốn hậu thế vững vàng hơn trong việc chống lại thói hư, tật xấu, những hành vi cửa quyền, nhũng nhiễu của người có chức, có quyền…
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Bản lĩnh vua Quang Trung
Sau thất bại thảm hại của quân Thanh ở trận Ngọc Hồi – Đống Đa, [...]
Th3
Chuyện về miếu Trung nữ
Theo nhận định của các sử gia đương thời cũng như ngày nay, chiến thắng [...]
Th3
Trí tuệ Hoàng Văn Tán
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào cuối thời Lê Sơ (đầu thế [...]
Th3
Công chúa trở thành hoàng hậu
Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, sau ngày đại thắng quân Thanh xâm [...]
Th3
Đặc công nước thời Trần
Sử sách và giai thoại dân gian từ bao đời nay lưu truyền về một [...]
Th3
Không xứng làm vua
Theo sử sách còn lưu lại đến ngày nay thì đối với Nguyễn Ánh, tức [...]
Th3