Cái giá phải trả

Cái giá phải trả

Trong sách “Đại Việt thông sử” có phần viết về Lê Sát như sau: Lê Sát người làng Bỉ Ngũ, vùng Lam Sơn, nay là huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Ông là bậc trí dũng song toàn. Ông theo vua Lê Thái Tổ khởi binh, từng trải qua nhiều gian lao nguy hiểm, lập được nhiều công lao. Lê Sát là một trong những người đầu tiên hăng hái tham gia cuộc khởi nghĩa chống ách đô hộ của quân Minh do Lê Lợi khởi xướng và lãnh đạo.

Nhờ có võ nghệ cao cường lại dũng cảm và mưu lược, ngay từ đầu, Lê Sát đã được Lê Lợi tin cậy mà trao quyền chỉ huy một trong những đơn vị nghĩa sĩ của Lam Sơn. Cuộc đời của Lê Sát là cuộc đời của một võ tướng, một lòng một dạ chiến đấu vì nghĩa cứu nước, cứu dân và tuyệt đối trung thành với Lê Lợi. Ông đã góp phần không nhỏ vào thắng lợi chung của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại đầu thế kỷ thứ XV.

Lê Sát là người rất có tài, đặc biệt là tài cầm quân, nhưng ông thường khiến cho người ta sợ mà theo nhiều hơn là khiến cho người ta phục mà theo. Tuy quyền cao chức trọng, nhưng về phương diện chính trị, ông không phải là người sâu sắc. Cũng sách trên có đoạn viết: Lê Sát hăng hái lo tròn bổn phận phò vua và sửa sang các việc, dám can gián và nói điều ích nước, nhưng ông là võ tướng, ít hiểu đại thể chính trị, xử việc thường theo ý riêng, tính thẳng thắn nhưng làm mà ít nghĩ đến hậu họa. Lại nữa, ông là người nóng tính và ghét Tư khấu Lưu Nhân Chú nên đã kiếm cớ vu cáo để giết, lại còn đang tâm đuổi cả người em của Lưu Nhân Chú là Lưu Khắc Phục đang làm Hành khiển Nam Đạo phải đi làm Phán thủ Đại Lý Chính. Do đó, các công thần đều ghê sợ. Ông thường dùng hình phạt rất nặng, nghiêm khắc và tàn bạo. Giám sinh Nguyễn Đức Minh theo gia đình trường Giám, thấy có lá thư nặc danh dán ở trên tường một ngôi chùa dọc đường, trong thư nói Đại tư đồ Lê Sát và Đô đốc Phạm Vấn cùng lập mưu để giết Phán Quan Sĩ, tức Lưu Nhân Chú. Thấy vậy, anh ta đã gọi mọi người tới xem, sau đó lại lấy và xé bỏ đi. Có người đến tố cáo chuyện đó với Lê Sát, ông cho rằng chính viên giám sinh ấy viết ra, liền sai bắt để tra khảo nhưng anh ta quyết không nhận. Lê Sát tính đem ra chém thì hình quan cho rằng tội trạng chưa rõ. Vì thế, Lê Sát giảm tội chết cho anh ta, nhưng bắt phải đi đày và tịch thu hết gia sản.

Bấy giờ, quan giữ chức Đồng tri Bắc Đạo là Bùi Ư Đài tâu xin chọn các bậc kỳ lão vào chầu để khuyên răn nhà vua và xin đặt chức Sư phó để chỉ bảo cho các quan. Lê Sát nghe lời tâu ấy thì giận lắm, xin giao Bùi Ư Đài cho ngục quan xét hỏi, ghép Bùi Ư Đài vào tội ly gián vua tôi. Nhà vua không nghe. Lê Sát tâu đi tâu lại đến ba bốn lần mà nhà vua vẫn không chịu. Tuy nhiên, vì các đại thần là Thiên Hựu, Cầm Hổ và cả quan Hữu Bật là Lê Văn Linh đều đồng ý với Lê Sát, nên nhà vua bất đắc dĩ phải đày Bùi Ư Đài đi xa nhưng lòng vua đã bắt đầu ghét bỏ Lê Sát.

Vua Lê Thái Tông là con thứ của Lê Lợi. Khi lên làm vua, lúc đó Thái Tông mới 11 tuổi nên việc gì cũng do quan Phụ chính Lê Sát quyết định. Khi vua đã đủ lớn, có đầu óc hiểu biết phán đoán, nhưng Lê Sát vẫn còn tham quyền cố vị, nhiều lúc muốn lấn át cả vua cho nên vua càng chán ghét ông, muốn loại trừ ông để tự mình thâu tóm quyền hành. Sự ghét bỏ của vua Thái Tông đối với Lê Sát càng ngày càng rõ, rất tiếc là Lê Sát nhận biết điều này quá chậm. Ông mải mê, say sưa với quyền lực mà quên cả việc đề phòng hậu họa. Cuối cùng, đại họa thảm khốc đã giáng xuống đầu ông. Vào mùa hè năm 1437, ông bị nhà vua buộc phải uống thuốc độc tự vẫn tại nhà.

Đến năm 1453, dưới triều vua Lê Nhân Tông (1443-1459), nhà vua mới cho ông là bị tội oan, bèn cấp cho con cháu ông 100 mẫu ruộng để thờ tự. Năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Lê Sát được truy tặng là Thái bảo, Cảnh quốc công.

Lời bàn:

Việc nhà vua bắt Lê Sát phải tự tử chết ngay tại tư gia có phần quá cay nghiệt, nhất là khi ông là quan Tể tướng, là một vị khai quốc công thần của nhà Lê. Hơn nữa, ông bị vua bức chết trong khi những chứng cứ kết tội ông trong vụ án này còn chưa được rõ ràng. Đành rằng thời phong kiến vua bảo chết thì thần dân không thể không chết nhưng quyết định này của nhà vua khiến cho Lê Sát và con cháu ông không phục. Hơn nữa, dù Lê Sát có trình tấu với vua việc phải giết người này hay tha tội chết cho người kia thì đó cũng chỉ là những lời trình tấu của cấp dưới với cấp trên, quyết định cuối cùng vẫn là ở nhà vua và nhà vua phải chịu trách nhiệm về quyết định đó. Do vậy, nhà vua là người phải chịu trách nhiệm chính trong việc giết Lưu Nhân Chú chứ không phải là Tể tướng Lê Sát.

Và nếu chiếu theo luật pháp thời nay, tội trạng của Lê Sát sẽ phải được đưa ra xét xử công khai bởi một phiên tòa. Trong phiên tòa ấy, cơ quan tiến hành tố tụng (tức là nhà vua thời đó) phải chứng minh được hành vi của Lê Sát đã phạm vào tội gì, đáng phải xử phạt ra sao. Cho dù Lê Sát có đáng tội chết thì cũng phải có một bản án và chứng cứ rõ ràng. Không ai bị coi là có tội nếu chưa có bản án có hiệu lực pháp luật. Đó là tính ưu việt của pháp luật ngày nay. Tuy nhiên, cái giá mà Lê Sát phải trả cho những hành động vô phép, thiếu đức của mình là bài học hữu ích cho hậu thế.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

“Thiên triều” chào thua

Sau khi được phong vương, vua Quang Trung vẫn thoái thác không chịu nhận lời [...]

Chuyện về Nguyễn Khuyến

Năm 1902, vua Thành Thái tuần du Bắc Hà kết hợp với việc làm lễ [...]

Mối tình đẹp như mơ

Nguyễn Đăng Đạo vốn đã nổi danh trong lịch sử với tài năng ứng biến [...]

“Gian quân”

Lê Chiêu Thống tên thật là Lê Duy Khiêm, khi lên ngôi lại đổi tên [...]

Bồ câu cũng đánh giặc

Trong chiến tranh, việc truyền tin tức giữ vai trò cực kỳ quan trọng, do [...]

Gian thần hại tôi trung

Theo sách “Khâm định Việt sử thông giám cương mục”, Lê Bá Ly người làng [...]