Bi kịch một cuộc đời

Bi kịch một cuộc đời

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, sau khi ra làm quan, Phan Thanh Giản đã tiến rất nhanh. Nhưng cũng chính trên quan lộ ấy, Phan Thanh Giản đã gặp không ít gian truân và cuối cùng ông đã tự giải thoát bằng liều thuốc độc. Cũng sách trên đã viết về việc Phan Thanh Giản 7 lần bị trách phạt.

Lần thứ nhất xảy ra vào năm 1831. Bấy giờ có cuộc nổi dậy của đồng bào các dân tộc ít người ở Quảng Nam. Phan Thanh Giản được lệnh đem quân đi đánh nhưng vì thua trận nên bị cách chức, bắt phải lập công để chuộc lỗi lầm. Năm sau 1832, ông được phục chức.

Lần thứ hai xảy ra vào năm 1836. Năm này, vua Minh Mạng cho là đất nước thái bình nên định đi tuần du ở Quảng Nam, Phan Thanh Giản dâng sớ xin can ngăn, khiến vua không vui. Nhà vua phái quan Ngự sử là Vũ Duy Tân tới Quảng Nam để xem xét. Vũ Duy Tân đi về tâu rằng, nhân dân ở Quảng Nam mong nhà vua tới, còn quan lại ở Quảng Nam thì làm việc lười biếng lại còn tham nhũng. Vua giận, giáng chức Phan Thanh Giản, bắt phải vào Quảng Nam cố sức làm việc để sửa lỗi. Hai tháng sau, Phan Thanh Giản lại được phục chức.

Lần thứ ba xảy ra vào năm 1838. Lúc này, Phan Thanh Giản đang giữ chức Thị lang bộ Hộ. Một hôm, nhà vua phát hiện có tờ sớ gửi về tâu việc thuộc lãnh vực của bộ Hộ. Trong tờ sớ ấy, vua đã có lời phê, giao xuống cho bộ Hộ vào đúng ngày trực của Phan Thanh Giản, nhưng Phan Thanh Giản lại quên không đóng dấu ấn vào. Vì việc này, ông lại bị giáng chức và phải đổi ra Thái Nguyên một thời gian.

Lần thứ tư xảy ra vào năm 1839. Năm này, Phan Thanh Giản giữ chức Thị lang bộ Hộ. Ông và một vị quan trong triều là Vương Hữu Quang, vốn người cùng làng, Vương Hữu Quang tâu việc bị coi là càn quấy nên triều đình định xử tội nặng. Nhờ được Phan Thanh Giản tìm cách che chở nên Vương Hữu Quang chỉ bị xử nhẹ. Vì việc ấy mà nhà vua cho rằng Phan Thanh Giản bênh vực người cùng làng nên giáng chức, bắt ra coi việc ở nhà kho.

Lần thứ năm xảy ra vào năm 1840. Lần này, Phan Thanh Giản được cử làm Phó chủ khảo trường thi Hương ở Thừa Thiên. Khoa thi ấy có Mai Trúc Tùng làm bài phú bị trùng vần mà Phan Thanh Giản không biết. Về sau, các quan ở bộ Lễ phát hiện ra, vì thế Phan Thanh Giản bị giáng một cấp. Nhưng sau đó không lâu ông được phục chức và được thăng làm Thị lang bộ Binh.

Lần thứ sáu xảy ra vào năm 1862. Lúc này, thực dân Pháp đã ngang nhiên nổ súng xâm lược nước ta. Triều đình Tự Đức bàn nên thương lượng với Pháp. Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tình nguyện đi. Đến Gia Định, chính Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã ký hòa ước Nhâm Tuất (1862), cắt ba tỉnh Đông Nam kỳ là Biên Hòa, Gia Định và Định Tường cho Pháp, lại còn chấp nhận bồi thường cho Pháp 4.000.000 đồng chiến phí! Bởi việc này, Phan Thanh Giản bị quở trách và bị cách chức nhưng vẫn lưu lại để làm việc như cũ. Nhưng năm sau – 1863, ông được sung làm Chánh sứ sang Pháp và đến năm 1864 thì ông được thăng làm Thượng thư bộ Hộ.

Lần thứ bảy xảy ra vào năm 1868, tức là đúng một năm sau khi Phan Thanh Giản đã qua đời. Trước đó, Phan Thanh Giản được vua Tự Đức giao trách nhiệm thương lượng với người Pháp thêm một lần nữa. Nhưng người Pháp đã bất chấp mọi đề nghị. Năm 1867, đến lượt ba tỉnh miền Tây Nam kỳ là Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên lại lọt vào tay thực dân Pháp. Phan Thanh Giản đau xót, hoang mang và hoảng sợ. Rốt cuộc, ông đã nhịn ăn và uống thuốc độc tự tử. Vua Tự Đức hạ lệnh truy tước hết mọi chức hàm của ông, đồng thời đục bỏ tên ông khỏi bia tiến sĩ ở Văn miếu Huế.

Lời bàn:

Theo các sử liệu còn đến ngày nay thì có một điều không ai có thể phủ nhận Phan Thanh Giản là người được nhân dân Nam bộ ngưỡng mộ. Bởi ông là một trong những tiến sĩ khoa cử đầu tiên của đất Nam kỳ. Ông làm quan trải qua ba triều: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và là vị quan rất liêm khiết. Tuy nhiên, Phan Thanh Giản cũng là người có lỗi với đất nước và không có lý lẽ gì biện minh cho điều này. Bởi giấy trắng và mực đen còn đó, Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp cùng ký vào bản hòa ước 1862 dâng ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp. Đã vậy, có người còn minh oan cho Phan Thanh Giản rằng trong hoàn cảnh lịch sử như thế, ông ta không có cách nào khác.

Hậu thế ngày nay không chấp nhận quan điểm này, vì khi đó còn một con đường khác và đây là con đường duy nhất đúng mà Phan Thanh Giản không nhìn ra. Đó là con đường quyết tâm đứng lên chống lại giặc Pháp xâm lược. Tuy nhiên, suy cho cùng thì Phan Thanh Giản cũng chỉ là người thừa hành, mà người có quyền quyết định tối thượng đến vận mệnh đất nước khi ấy là vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn.

G.B

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Dũng tướng Lam Sơn

Trong các bộ sử chính thống thời nhà Lê sơ còn lưu truyền đến ngày [...]

Nghĩa tâm hào hiệp

Để chuẩn bị lực lượng chống thực dân Pháp, Đốc Thiết đã thực hiện các [...]

Ông Ích Khiêm đi xem mắt vợ

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, Ông Ích Khiêm sinh ngày 21 tháng [...]

Đại công thần Lê Bôi

Lê Bôi tên thật là Phạm Bôi, người làng Địa Linh, nay thuộc làng Đông [...]

Giả ăn mày để do thám

Phạm Ngũ Thư quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, lộ [...]

Tan nát cơ đồ vì dâm

Theo sách “Đại Việt thông sử”, vào đầu năm 1592, Mạc Mậu Hợp thấy quân [...]