Lưu danh sử sách

Lưu danh sử sách

Giữa năm 1873, Nguyễn Tri Phương được triều đình nhà Nguyễn điều về làm Tổng đốc Hà Nội, để đối phó với tên Jean Dupuis ngang ngược. Từ ngày 12 đến 19-11-1873, Garnier liên tục gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Nguyễn Tri Phương, buộc ông phải hạ khí giới, giao nộp thành Hà Nội cho chúng. Song ông vẫn quyết tâm chiến đấu và Nguyễn Tri Phương đã ra lời Hiệu triệu toàn quân, toàn dân Hà Nội chống Pháp cho niêm yết khắp nơi.

Tất cả những lời đe dọa của giặc Pháp không làm Nguyễn Tri Phương khuất phục, ông cùng con trai là phò mã Nguyễn Lâm khi đó vừa ra Hà Nội thăm cha đã cùng các tướng sĩ kêu gọi quân dân Hà Nội sẵn sàng đánh giặc Pháp, tăng cường phòng thủ. Nguyễn Tri Phương cũng liên kết với Tổng đốc Bắc Ninh Trương Quang Đản, Tổng đốc Sơn Tây Hoàng Kế Viêm sẵn sàng ứng cứu cho nhau.

Song Nguyễn Tri Phương giữ thành Hà Nội trong điều kiện phe chủ hòa mà cầm đầu là Tự Đức, Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp… thắng thế. Tại Hà Nội, trước khi Nguyễn Tri Phương tới nhậm chức thì triều đình đã điều động các tướng giỏi như Hoàng Kế Viêm đi Sơn Tây, điều Lưu Vĩnh Phúc chỉ huy quân Cờ Đen lên mạn ngược. Quan lại trong thành Hà Nội có tư tưởng chống Pháp cũng bị điều đi nơi khác thay thế bằng quan lại thuộc phe chủ hòa. Triều đình còn ngăn cấm không cho nhân dân vũ trang đánh Pháp.

Quân phòng thủ Hà Nội quá mỏng, chỉ có 5.000 quân, trang bị lại quá kém, từ lâu không được luyện tập, tinh thần chiến đấu sa sút. Khi giặc Pháp tới đóng ở Trường Thi, Nguyễn Tri Phương chỉ huy động được 2.000 quân, nhưng tinh thần hoang mang. Trong khi đó, quân Pháp có 300 quân thiện chiến, trang bị hiện đại, có tàu chiến, súng đại bác. Bọn Pháp còn cấu kết với những tên gián điệp đội lốt cha cố Tây Ban Nha, Pháp đến Hà Nội truyền giáo từ trước tổ chức mạng lưới gián điệp do thám các hoạt động của quân ta. Chúng còn trang bị vũ khí cho đám giáo dân quá khích quấy rối hậu phương ta. Chín nhà buôn Trung Hoa có lực lượng vũ trang cũng cấu kết với giặc Pháp. Hơn 3.000 quân của dư đảng Tạ Văn Phụng đang nổi loạn ở Hải Dương, Quảng Yên đem quân đến giúp quân Pháp sẵn sàng đánh thành.

Mặc dù lực lượng chênh lệch, phải chiến đấu đơn độc, Tổng đốc Nguyễn Tri Phương vẫn kiên quyết chiến đấu. 4 giờ sáng ngày 1 tháng 10 năm Quý Dậu, tức ngày 20-11-1873, quân Pháp do thiếu tá Francis Garnier và tên lái buôn Jean Dupuis đem 180 quân tấn công thành, chúng nã đại bác vào khu Cột Cờ là Tổng hành dinh của Nguyễn Tri Phương. Nguyễn Tri Phương thân lên mặt thành chỉ huy quan quân đánh Pháp ở cửa Nam.

Cuộc chiến đấu diễn ra vô cùng quyết liệt. Quân Pháp tiến tới sát tường thành, đạn đại bác của ta đặt trên mặt thành rơi vượt quá đầu địch. Quân Pháp chiếm được lợi thế phá vỡ cửa Nam nơi Nguyễn Tri Phương và con trai là Nguyễn Lâm chỉ huy. Ở các nơi khác, Ngô Triều vẫn hăng hái xông lên mặt thành vung gươm chém những tên giặc đang dùng thang leo vào. Cả hai người đều hy sinh anh dũng trên đống xác giặc. Khi thấy nguy cơ thành bị mất, Thự đốc Bùi Thúc Kiên, án sát Tôn Thất Trác bỏ chạy về cửa Bắc, mặc dù quân sĩ vẫn đang kiên cường chiến đấu.

Sau trận chiến này, khâm phái Phan Đình Bình, Bố chính Võ Dương, Đề đốc Đặng Siêu và cả Nguyễn Tri Phương đều bị trọng thương và sa vào tay giặc. Khi quân sĩ khiêng ông vào nằm trong dinh, quân Pháp băng bó vết thương cho ông, ông dứt ra. Khi chúng đổ thức ăn vào miệng, ông nhổ ra và nói: “Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lắt lay mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.

Nguyễn Tri Phương bị trọng thương không chịu để giặc buộc thuốc, nhịn ăn uống, người Pháp đổ thuốc và cháo ông phun ra cả. Sau một tháng buồn rầu vì thành mất, triều đình thì bạc nhược, buồn cho vận nước, thương em và con đều hy sinh và đau đớn vì bị thương, ngày 20 tháng 12 năm 1873, tức ngày 1 tháng 11 năm Quý Dậu, Nguyễn Tri Phương mất tại dinh Tổng đốc Hà Nội. Lúc đó ông là Hiệp biện Đại học sĩ, lãnh Lại bộ Thượng thư, sung Khâm mạng tuyên sát Đổng sức đại thần.

Lời bàn:

Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện”, sau khi mất, Nguyễn Tri Phương đã được các sĩ phu và nhân dân Hà Nội an táng trọng thể, rước bài vị về thờ ở miếu Trung Liệt. Khi ông tuẫn tiết, các tướng lĩnh, sĩ phu trong phe chủ chiến và dân Hà Thành vô cùng thương cảm và ngay sau khi nhận được tin ông mất, nhân dân Nam kỳ vô cùng thương tiếc. Người dân Mỹ Khánh (nay thuộc phường Biên Hòa, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) đã rước bài vị của ông vào thờ ở đình làng. Từ đó đình này mang tên đền thờ Nguyễn Tri Phương. Hàng năm nhân dân tổ chức lễ hội ở đình từ ngày 16 đến 17 tháng 10.

Tổng đốc Nguyễn Tri Phương qua đời đã để lại niềm tiếc thương vô hạn cho quan, quân, dân, sĩ phu cả nước nói chung và Hà thành nói riêng. Niềm tiếc thương ấy đã được hun đúc thành ý chí quật cường và quyết tâm quét sạch giặc ngoại xâm trên toàn cõi nước Nam. Ngày nay, tinh thần ấy đã và đang được các thế hệ người Việt Nam gìn giữ và phát huy trong cuộc chiến chống lại đói nghèo và bảo vệ vững chắc chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đ.T

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Cái chết bất tử

Đốc Thiết là người có công dẹp loạn giặc Xá, bảo vệ bản làng người [...]

Vua giả đi sứ

Theo kế của Phúc Khang An, phía Đại Việt sẵn sàng cử một An Nam [...]

Sự tích của hai câu đối

Nguyễn Trãi sinh năm 1380 và mất ngày 19-9-1442, quê gốc ở làng Chi Ngại, [...]

Công thần Nguyễn Lý

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Nguyễn Lý là người thôn Dao Xá (nay là [...]

Mẹ nào con nấy!

Theo sách “Hoàng Lê nhất thống chí”, Lê Chiêu Thống, tên thật là Lê Duy [...]

Cái nết chết không chừa

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Mạc Phúc Nguyên chết vì bệnh đậu mùa. Khi [...]