Đầu năm 1285, quân Nguyên tràn sang tấn công Đại Việt với sức công kích rất mạnh. Thái sư Trần Quang Khải suýt tử thương khi thuyền của ông đang ngủ bị bốc cháy, may nhờ có vợ là công chúa Phụng Dương đánh thức mới thoát được. Tuy nhiên, dưới sự điều động tài tình của Hưng Đạo Vương, quân Đại Việt đã thực hiện các cuộc nghi binh, đưa quân Nguyên vào thế bị động.
Năm Ất Dậu (1285), Toa Đô từ Chiêm Thành theo đường bộ kéo ra Nghệ An tấn công quân Nam, có Ô Mã Nhi dẫn quân đi đường biển tiếp ứng. Được tin, Hưng Đạo Vương tâu vua xin cho Thượng tướng Trần Quang Khải đưa binh vào đóng mặt Nghệ An và cho Trần Bình Trọng giữ Thiên Trường, rồi rước xa giá ra Hải Dương. Trần Quang Khải vào đến Nghệ An, sau đó ông chia quân ra phòng giữ. Thấy thế giặc quá mạnh, ông cho lui quân ra mặt biển và giữ các nơi hiểm yếu.
Quân của Toa Đô đánh mãi không được, cạn lương, bèn cùng với Ô Mã Nhi dẫn quân xuống thuyền trở ra Bắc. Trần Quang Khải hay tin cho người về Thanh Hóa cấp báo. Vua cho Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật cùng Trần Quốc Toản và Nguyễn Khoái đem 5 vạn quân ra đón đánh tại Hàm Tử Quan thuộc tỉnh Hưng Yên. Quân Nguyên thua to chết hại rất nhiều.
Lúc bấy giờ đại binh của Thoát Hoan đóng tại Thăng Long, còn chiến thuyền thì đóng ở bến Chương Dương, thuộc địa phận huyện Thượng Phúc. Trần Quang Khải được lệnh của nhà vua, cùng Trần Quốc Toản và Phạm Ngũ Lão đem quân từ Thanh Hóa đi thuyền vòng đường biển ra đến bến Chương Dương tấn công chiến thuyền của quân Nguyên. Quân Nguyên địch không nổi phải bỏ thuyền lên bờ chạy. Trần Quang Khải đem quân lên bờ đuổi đánh về đến chân thành Thăng Long và lập mưu cho phục binh đóng sẵn ngoài thành.
Trước tình hình đó, Thoát Hoan từ Thăng Long đem quân ra đánh giải vậy nhưng lại bị phục binh đánh úp, quân Nguyên đại bại phải bỏ thành Thăng Long vượt sông Hồng giữ mặt Kinh Bắc (Bắc Ninh ngày nay). Trần Quang Khải cho quân vào thành chiếm lại Thăng Long và cho quân về Thanh Hóa báo tin. Trong vòng hai tháng, đại phá quân Nguyên hai lần tại Hàm Tử và Chương Dương, nên khí thế quân nhà Trần trở nên rất mạnh, sau đó thắng nhiều trận liên tiếp và đuổi được Thoát Hoan về nước.
Chính sử không chép rõ Trần Quang Khải tham gia trong chiến tranh Nguyên Mông – Đại Việt lần 3 như thế nào. Sau chiến thắng này, triều đình luận công ban thưởng, Trần Quốc Tuấn có công lớn nhất, được phong tước Đại vương. Trần Quang Khải cũng được xếp công thần hạng nhất. Sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục có đoạn chép như sau: – Quang Khải lúc làm tướng võ, lúc làm tướng văn, giúp vương nghiệp nhà Trần, uy danh ngang với Quốc Tuấn. Sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ ba, ông tiếp tục phụng sự triều đình cho đến khi mất ngày 3 tháng Bảy âm lịch năm Hưng Long thứ hai (tức 26 tháng 7 năm 1294) đời vua Trần Anh Tông. Vợ ông là công chúa Phụng Dương đã mất trước đó 3 năm. Ông bà được chôn cất tại thái ấp của mình, được thờ làm Thành hoàng làng Cao Đài.
Trần Quang Khải được người dân Việt Nam lập đền thờ ở một số nơi, như tại đình làng Phương Bông, ngoại thành thành phố Nam Định. Tại Phường Bông cũng lưu lại điệu múa “bài bông” được người dân ở đây cho là khởi xướng bởi Trần Quang Khải trong tiệc “Thái bình diên yến” do Trần Nhân Tông tổ chức sau khi chiến thắng quân Nguyên. Tại đền Thái Vi ở Hoa Lư, Ninh Bình ông cùng với Trần Hưng Đạo được đúc tượng phối thờ trong hậu cung cùng với các vị vua nhà Trần.
Lời bàn:
Không chỉ là một nhà ngoại giao, một vị tướng, Quang Khải còn là một nhà thơ. Ông có tập Lạc Đạo thi tập nhưng ngày nay không còn. Mãi đến thế kỷ XVIII, Lê Quý Đôn mới sưu tầm được 9 bài, chép lại trong tác phẩm Toàn Việt thi lục. Số lượng tuy còn lại ít nhưng cũng đủ cho ta thấy ở ông một tấm lòng mến yêu đất nước, quê hương mà ông đã từng bảo vệ, một niềm lạc quan, một sự khiêm nhượng, một cốt cách dân tộc đậm đà, tất cả được thể hiện ra bằng một năng khiếu quan sát tinh tế, một xúc cảm đẹp đẽ, lành mạnh. Một điểm nổi bật nữa trong thơ Trần Quang Khải là đề tài và chất liệu thật thân thuộc: Một bến đò, một cánh đồng, một mảnh vườn, một lũy tre, một bờ liễu, một trận mưa xuân trên đường thôn, một khúc sáo mục đồng trong chiều sương… Và với bấy nhiêu chất liệu tác giả vẽ nên những bức tranh thật đẹp.
Không phải ngẫu nhiên mà Trần Quang Khải được người dân Việt Nam lập đền thờ ở nhiều nơi. Mà vì ông là đệ nhất công thần của nhà Trần, là vị tướng tài ba, là nhà ngoại giao giàu trí tuệ và đầy bản lĩnh… Ông còn là người có nhiều đóng góp to lớn cho truyền thống anh hùng, bất khuất trong chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Nếu hậu thế không biết trân trọng, giữ gìn và phát huy truyền thống vô cùng quý giá ấy của tổ tiên, thì sẽ có tội với lịch sử, với các bậc tiền nhân và cả với con cháu mai sau.
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Tướng quân Nguyễn Khoái
Nguyễn Khoái sinh và mất năm nào, quê quán ở đâu, hiện tại vẫn chưa [...]
Th3
Nữ kiệt Tây Sơn
Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế, Bùi Thị Xuân rời Tây Sơn xuống Quy Nhơn, [...]
Th3
Ước nguyện không thành
Vào năm Tân Sửu (1761), tức năm Cảnh Hưng thứ 42, Trịnh Sâm đã dâng [...]
Th3
Giữ nghiêm phép nước
Nguyễn Văn Giai người làng Phù Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông từng [...]
Th3
Đại công thần Lê Bôi
Lê Bôi tên thật là Phạm Bôi, người làng Địa Linh, nay thuộc làng Đông [...]
Th3
Giả ăn mày để do thám
Phạm Ngũ Thư quê ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, lộ [...]
Th3