Lưỡng quốc Thượng thư

Lưỡng quốc Thượng thư

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Sư Mạnh là người làng Cổ Đô, xã Cổ Đô, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây, nay thuộc thành phố Hà Nội. Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 15 năm 1484, đời vua Lê Thánh Tông. Sau đó, ông được bổ làm quan Thượng thư Bộ Lễ, tước Sùng Tín hầu, cử đi sứ Trung Quốc năm 1500.

Thời ấy, giữa hai nước Đại Việt và Trung Hoa có nhiều bất hòa. Nguyễn Sư Mạnh vốn là người biết nhiều, hiểu rộng, được vua Lê cử đi sứ Trung Quốc vào năm 1500. Cho đến ngày nay, vẫn còn nhiều giai thoại về chuyến đi sứ này của ông và được dòng họ Nguyễn truyền tụng, rồi ghi vào tộc phả để lưu truyền cho con cháu đời sau. Và một trong những giai thoại kể lại rằng:

Khi vào yết kiến vua nhà Minh, không biết vô tình hay hữu ý nhưng Nguyễn Sư Mạnh đã không cài khuy áo mà để hở cả bụng. Thấy vậy, vua nhà Minh đã nổi cơn giận dữ, cho là sứ thần nước Nam thất lễ, rồi hạch sách và khép ông phạm vào tội khi quân và định trục xuất về nước. Ngay lúc đó, Nguyễn Sư Mạnh vội vàng quỳ mà tâu rằng:

– Muôn tâu, vì đường sá xa xôi, bụng thần lại chứa đầy chữ, mà sau nhiều ngày đi đường âm u, ẩm ướt, sợ khú mất chữ thánh hiền, vậy nên thần mạo muội xin được phanh áo ra hong, mong nhà vua đại xá.

Nghe vậy, vua Minh phần vừa muốn thử tài, phần lại vừa muốn nhân cơ hội này hại người nước Nam nên ra chiếu rằng:

– Nếu sứ thần nước Nam là người hay chữ thì hãy giúp thiên triều chép lại thiên “Vi chính” trong sách “Luận ngữ” mới bị thất lạc.

Vua nhà Minh vừa dứt lời thì Nguyễn Sư Mạnh không một chút suy tư mà nhận lời ngay và hỏi lại rằng:

– Bẩm đại vương cần thiên “Vi chính” trong bao nhiêu ngày?

– Trong 30 ngày phải hoàn tất. Vua Minh nói và hạ lệnh cho sứ thần nước Nam không được ra khỏi dinh thự trong 30 ngày, đồng thời cho người theo dõi, giám sát chặt chẽ. Vua nhà Minh chắc mẩm Nguyễn Sư Mạnh sẽ không làm nổi.

Lạ thay, gần hết thời hạn quy định mà không thấy sứ thần làm gì, chỉ ngồi đánh cờ. Đến ngày thứ 25, vua Minh sai người nhắc nhở, Nguyễn Sư Mạnh trả lời: “Ngày mai thần sẽ viết”. Đến ngày thứ 29, ông đã đưa thiên “Vi chính” cho vua Minh. Nhận sách, vua Minh khen sứ thần nước Nam có trí nhớ tuyệt vời, sách chép lại y như bản chính, chỉ có chữ “công” thừa một dấu chấm.

Không thể chê vào chỗ nào được nên vua Minh mượn cớ này để hạch tội, song Nguyễn Sư Mạnh đã khẳng khái nói rằng:

– Nếu thần viết thừa dấu chấm thì chắc chắn bản gốc của thượng quốc cũng thừa. Vua Minh cho đem bản gốc ra so sánh thì y như lời Nguyễn Sư Mạnh, chữ “công” cũng thừa dấu chấm thật.

Lúc đó, vua nhà Minh phải chịu phục tài Nguyễn Sư Mạnh và không còn lý gì để làm hại sứ thần nước Nam. Sau đó, vua nhà Minh đã xuống chiếu sắc phong cho ông chức Thượng thư của Trung Hoa. Bốn chữ “Lưỡng quốc Thượng thư” đã được khắc tại từ đường họ Nguyễn ở Cổ Đô, với ý nghĩa nhắc đến công lao của nhà ngoại giao đại tài Nguyễn Sư Mạnh.

Từ đó, Nguyễn Sư Mạnh được nhà Lê tin dùng và được ban quốc tính (được mang họ của vua), được gả công chúa và phong chức Vinh Lộc Đại Phu, giao cho trông coi Viện Hàn lâm, kiêm Đông các Đại học sĩ. Tuy vậy, ông vẫn sống giản dị, cửa nhà đơn sơ, tài sản không có gì đáng giá. Ông thọ 82 tuổi.

Lời bàn:

Trong các triều đại phong kiến ở nước ta, có 4 người là Mạc Đĩnh Chi triều Trần, Nguyễn Trực, Nguyễn Nghiêu Tư và Nguyễn Đăng Đạo triều hậu Lê được nhà Minh và nhà Thanh ở Trung Quốc phong là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Song, người được phong là “Lưỡng quốc Thượng thư” thì chỉ có một, đó là Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ Nguyễn Sư Mạnh. Và ông cũng là sứ giả duy nhất của các nước lân bang nhưng khi vào yết kiến “thiên triều” – vua nhà Minh lại không cài khuy áo mà để hở bụng. Với ngày nay thì việc làm này quả là không nên nhưng vào thời ấy, người phương Bắc luôn ỷ thế nước lớn mà coi thường các nước nhỏ, thậm chí họ còn bắt các quốc gia láng giềng phải cống nạp đủ thứ. Vì thế, chính việc làm này của ông cũng đã là quá đủ để hậu thế hiểu về bản lĩnh cũng như tài năng của sứ giả Đại Việt.

Mặc dù chính sử không ghi chép nhiều về thân thế và sự nghiệp của Nguyễn Sư Mạnh nhưng việc ông được vua Lê ban quốc tính đã ghi nhận những cống hiến lớn lao của ông đối với triều đình nhà Lê, nhất là trong lĩnh vực ngoại giao. Trong lĩnh vực văn chương, di sản của ông tuy bị thất truyền nhưng từ nhiều thế kỷ qua, nhân dân ta vẫn tôn thờ và ngưỡng mộ tài năng đức độ và coi ông là tấm gương lớn để noi theo. Và chính điều này làm cho hậu thế nể phục và tôn vinh ông, bởi bia đá rồi cũng mòn với thời gian.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Di huấn để đời

Đào Quang Nhiêu là danh tướng của 3 đời chúa Trịnh (Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, [...]

Công thần chết vì gian thần

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, khi Vương Thông tập trung hết lực [...]

Giai thoại về Nguyễn Đăng

Nguyễn Đăng sinh năm 1576 tại làng Đại Toán, huyện Quế Dương, Kinh Bắc. Làng [...]

Chuyến đi sứ 18 năm

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Quang Bí là người làng Mộ [...]

Dũng tướng Lê Ngân

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Lê Ngân người xã Đàm Di, thuộc Lam Sơn, [...]

Ngoại giao “văn chương”

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, sau khi nhà Lê Trung Hưng lên, [...]