Vì nước, vì dân

Vì nước, vì dân

Trong sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” có đoạn chép rằng: Phạm Văn Nghị có hiệu là Nghĩa Trai, người huyện Đại An, tỉnh Nam Định (nay là thôn Tam Quang, xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định). Năm Minh Mạng thứ mười chín (tức năm Mậu Tuất – 1838, ông thi đỗ tiến sĩ và ra làm quan bắt đầu từ chức Hàn lâm Tu soạn, rồi Tri phủ Lý Nhân.

Cũng theo sách trên, Phạm Văn Nghị khi làm quan thường không thích giấy tờ án kiện, hễ dân có việc tranh tụng lẫn nhau thì ông hay lấy điều nghĩa và đức hiếu khuyên bảo. Về sau, ông được thăng làm Biên tu ở Quốc Sử Quán, nhưng chẳng được bao lâu thì nhân vì có bệnh, ông cáo quan xin về dạy học. Học trò của ông rất đông và có nhiều người thành đạt. Trong số những người thành đạt ấy thì phần nhiều đều ra làm quan ở triều đình hoặc ở các tỉnh, huyện.

Nơi ông ở và dạy học gần cửa biển Đại An, thấy đất gần cửa biển bỏ không, ông bèn chiêu tập người cùng làng đến để khẩn hoang lập ấp rồi đặt tên cho nơi mới khai khẩn ấy là Sĩ Lâm. Năm Tự Đức thứ mười một, tức năm Mậu Ngọ – 1858, ông được nhà vua khởi phục và cho lãnh chức Đốc học Nam Định. Năm ấy có biến ở Sơn Trà (ý chỉ việc thực dân Pháp nổ súng vào bán đảo Sơn Trà, mở đầu cuộc chiến xâm lược nước ta), ông dâng sớ xin tập hợp nghĩa dũng để theo quân triều đình đi đánh giặc, nhưng ông đến thì họa binh lửa đã chuyển về Nam (ý chỉ việc thực dân Pháp kéo quân vào Nam đánh chiếm Gia Định). Nhà vua cho rằng, Phạm Văn Nghị là người có dũng khí và chí lớn hơn người, liền khen ngợi rồi cho về giữ chức cũ.

Khi ấy, giặc ở Đông Bắc lại quấy nhiễu (ý chỉ bọn thổ phỉ người nhà Thanh tràn sang quấy phá nước ta) cho nên Phạm Văn Nghị lại đem số nghĩa dũng đã chiêu mộ trước đó đến đóng giữ ở đồn Thượng Nguyên vài tháng. Sau đó, triều đình thăng ông làm Hàn lâm Viện nghị giảng Học sĩ, nhưng ông vì bệnh nên lại xin về nghỉ. Phạm Văn Nghị cùng với người đỗ tiến sĩ cùng khoa là Doãn Khuê được kẻ sĩ đương thời rất mến phục. Hai ông đối đãi với họ rất ưu ái. Có lần Phạm Văn Nghị vào bái yết nhà vua, được vua thong thả hỏi chuyện bệnh tình rồi cho vàng, tiền để mua thuốc men và lại dụ rằng:

– Không phải ta khen khanh về sự tiến thoái nhanh nhẹn, mà là khen về khí tiết hơn người, gặp việc là hăng hái làm.

Năm Tự Đức thứ mười chín, tức năm Bính Dần – 1866, ông được sung chức Thương biện, đóng quân ở Hà Cát để trông coi vùng biển, cùng với các quân thứ khác, họp bàn mà làm việc. Năm Tự Đức thứ hai mươi sáu, tức năm Quý Dậu – 1873, ông được thăng làm Thị độc Học sĩ, được ban thẻ bài bằng vàng. Mùa Đông năm ấy, Hà thành (Hà Nội) bị thực dân Pháp đánh chiếm, ông dâng sớ xin chiêu tập nghĩa dũng để phòng bị và đem quân đến đóng ở đồng Độc Bộ nhằm ngăn chặn giặc. Do quân ít, chống không nổi, ông liền rút về Ý Yên, rồi tập hợp thân hào ở vùng này lại, chờ đợi sự sai khiến của triều đình. Khi hòa ước giữa triều đình nhà Nguyễn và thực dân Pháp đã ký, ông được sung làm Thương biện ở tỉnh Nam Định, song ông viện cớ tuổi cao, xin về dưỡng lão và nhà vua được chấp thuận. Sau vì việc thành Nam Định bị thất thủ, ông bị triều đình nghị án và đoạt hết mọi chức tước. Khi ấy, nhà vua nói:

– Ta không thể vì ơn riêng mà bỏ qua phép nước được.

Từ khi bị đoạt chức, Phạm Văn Nghị về làm nhà ở động Liên Hà, tỉnh Ninh Bình và xưng là Liên động chủ nhân. Quan lại địa phương đem việc này tâu lên, vua ban cho ông 100 lạng bạc và dụ rằng:

– An cư, dưỡng lão, dạy bảo hiền tài, thế cũng đã là lo báo đáp, không nên tự cho như thế là chưa đủ.

Phạm Văn Nghị mất năm 76 tuổi. Vua chuẩn cho ông được phục lại nguyên chức hàm cũ là Thị độc Học sĩ. Con trưởng của ông là Phạm Văn Giảng đi thi Hội đỗ phó bảng và ra làm quan đến chức Bố chánh Thanh Hóa. Con thứ là Phạm Văn Hân, Phạm Văn Hàm, Phạm Văn Phả đều thi đỗ cử nhân.

Lời bàn:

Cứ theo nội dung của giai thoại trên, Phạm Văn Nghị quả là con người có tấm lòng vì dân, vì nước. Khi làm quan thì ông dốc lòng hiếu đức và nhân nghĩa để chăm lo và khuyên bảo trăm họ. Chưa hết, ông còn hăng hái tổ chức cho dân đi khẩn hoang lập ấp để dân nghèo có ruộng. Khi giặc đến thì ông lại là người quyết chí đánh giặc đến cùng. Mặc dù chưa có lệnh của triều đình, nhưng giặc đến nhà thì phải đánh, nên ông đã tự đứng ra chiêu mộ nghĩa dũng, thân hào để chờ lệnh của nhà vua. Nhưng thật đáng tiếc, Phạm Văn Nghị ngày ấy đã gửi niềm tin của mình nhầm chỗ.

Cũng chính vì sự nhu nhược, hèn yếu của vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn lúc đó mà cuối đời ông bị “kỷ luật” oan. Trong khi nhà vua và triều đình lần lượt cắt đất từng vùng dâng cho thực dân Pháp, rồi cuối cùng là để cả nước rơi vào tay giặc ngoại xâm thì lại chẳng phải mang tội gì. Còn ông, một người khẩn hoang từng thửa đất cho dân nghèo, quyết đánh giặc nhưng không đủ sức đánh thì lại bị lãnh án nặng nề. Thế mới biết, sự hủ bại của chế độ phong kiến là vậy. Song, nhân dân là những người viết sử công bằng nhất. Bằng chứng là ghi nhớ công đức của Phạm Văn Nghị, nhân dân đã lập đền thờ ông ở quê nhà và hàng năm tổ chức lễ hội vào ngày rằm tháng Giêng. Chưa hết, nhiều con đường ở khắp đất nước được mang tên ông và như thế, tên tuổi cùng sự nghiệp của ông sẽ sống mãi với nhân dân.

Theo Danhngoncuocsong.com

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Sứ thần nhanh trí

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Quốc Trinh có tên gọi là [...]

Gương sáng Bùi Thị Nhạn

Bùi Thị Nhạn sinh năm 1917, tại thôn Cống Thủy, xã Khánh Mậu, huyện Yên [...]

Câu nói để đời

Sinh thời, Trạng nguyên Nguyễn Quốc Trinh đã có câu nói để đời. Mặc dù [...]

Nỗi buồn nhân thế

Năm 1428, triều Lê định công ban thưởng cho những người có công trong sự [...]

Tôi hiền không gặp thời

Lê Kính Tông có tên là Lê Duy Tân và là vị vua thứ 5 [...]

Chuyện về Cao Bá Quát

Cao Bá Quát tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn [...]