Triều đình nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam, đã tồn tại trong suốt hơn 143 năm (1802-1945) với 13 đời vua Nguyễn. Thông thường các vua Nguyễn sau khi mất, bài vị được đưa vào thờ tại Thế Miếu, có miếu hiệu ứng với tên của các đỉnh đồng đúc dưới thời Minh Mạng (1835), trừ các vua bị phế truất và các vua bị Pháp đày ra khỏi nước. Riêng vua Dục Đức (phế đế) tuy có miếu hiệu là Cung Tôn Huệ hoàng đế là do con trai là vua Thành Thái truy phong, nhưng bài vị không được đưa vào thờ tại Thế Miếu. Các vị vua yêu nước Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân vào năm 1959 đã được Hội đồng Nguyễn Phước Tộc làm lễ và đưa bài vị vào thờ tại Thế Miếu.
Trong số 13 vị vua của nhà Nguyễn, vua Dục Đức là người có thời gian tại vị ngắn nhất (chỉ có 3 ngày). Vua Dục Đức (1852-1883) có tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Ái, là vị vua thứ năm của nhà Nguyễn. Ông lên ngôi vua ngày 20 tháng 7 năm 1883, nhưng tại vị chỉ được 3 ngày. Theo sách “Đại Nam chính biên liệt truyện” thì Nguyễn Phúc Ưng Ái sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852 tại Huế, là con thứ 2 của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y và bà Trần Thị Nga.
Năm 1869, Nguyễn Phúc Ưng Ái 17 tuổi, ông được vua Tự Đức chọn làm con nuôi (vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên vua Tự Đức không có con) và đổi tên là Nguyễn Phúc Ưng Chân, đồng thời cho xây Dục Đức đường để ở và giao cho hoàng quý phi Vũ Thị Duyên (vợ vua Tự Đức, sau này là Lệ Thiên Anh Hoàng hậu) trông coi, dạy bảo. Năm 1883, ông được phong làm Thụy Quốc công.
Khi vua Tự Đức mất để di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân, nhưng trong di chiếu có đoạn viết rằng:
Vì tiên liệu trẫm đã nuôi sẵn ba con. Ưng Chân lớn tuổi nhất, từ lâu đã đến tuổi trưởng thành, tuy nhiên mắt hơi có tật, dù xưa nay vẫn giấu kín, sợ sau này không còn thấy sáng, tánh lại hiếu dâm, vì tâm tính rất xấu, không chắc đảm đương nổi việc lớn. Nhưng đất nước cần có vua lớn tuổi. Trong thời thế khó khăn này không dùng Ưng Chân thì dùng ai?…
Các quan Phụ chính ngày ấy là Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết thấy vậy đã dâng sớ lên vua Tự Đức xin bỏ mấy đoạn có liên quan đến tính nết xấu của Ưng Chân và câu “Không chắc đảm đương nổi việc lớn” nhưng vua Tự Đức từ chối.
Thọ lãnh di chiếu của vua Tự Đức, Nguyễn Phúc Ưng Chân lên ngôi kế vị ngày 20 tháng 7 năm 1883. Lúc làm lễ lên ngôi, Nguyễn Phúc Ưng Chân đã cho đọc lướt đoạn nói về tật xấu của mình. Vì vậy cho nên hai Phụ chính đại thần là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường bèn dâng lên hoàng thái hậu Từ Dũ (mẹ vua Tự Đức) tờ hạch tội buộc cho vua Dục Đức bốn tội lớn:
Muốn sửa di chiếu của vua cha. Có đại tang mà mặc áo màu. Tự tiện đưa một giáo sĩ vào hoàng thành. Thông dâm với nhiều cung nữ của vua cha.
Sau khi nhận được sự đồng ý của hoàng thái hậu Từ Dũ và hoàng hậu Lệ Thiên Anh, hai quan Phụ chính đại thần liền sai người giam vua Dục Đức ở cung Dục Đức đường, rồi Thái y viện và cuối cùng là ngục Thừa Thiên. Ở đây, nhà vua bị bỏ đói cho đến chết.
Vua Dục Đức mất ngày 6 tháng 10 năm 1883. Một số tài liệu ghi ông mất ngày 6 tháng 9 năm Giáp Thân, tức 24 tháng 10 năm 1884. Vì chỉ làm vua được mấy ngày chưa kịp đặt niên hiệu (Dục Đức chỉ là tên gọi nơi ở Dục Đức đường), năm 1892, vua Thành Thái (con vua Dục Đức) đã truy tôn cha mình là Cung Tôn Huệ hoàng đế. Lăng của vua Dục Đức là An Lăng, tại làng An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Lời bàn:
Cứ theo nội dung của giai thoại trên cũng đủ biết triều đại nhà Nguyễn đến thời trị vì của vua Dục Đức như một chiếc xe rệu rã đang lao xuống dốc suy tàn. Bởi lẽ, vào thời phong kiến thì đạo quân thần là trên hết, vì “quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”, vậy mà cả Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường thân làm thần nhưng chẳng những dám hạch tội, lại còn lớn tiếng khép tội nhà vua… thì quả là một xã hội đại loạn, “tam cương, ngũ thường” đã bị đảo lộn. Và một xã hội như vậy thì ngồi trên ngai vàng phỏng có ích gì? Vậy nên 3 ngày làm vua của Dục Đức cũng đã là quá thừa, vì nếu không ngồi lên ngai vàng thì có khi ông còn kéo dài cuộc sống trên trần thế và có khi còn có ích cho đời.
Tiếc rằng, thân là hoàng thân quốc thích và sau đó là làm vua nhưng Nguyễn Phúc Ưng Chân không sớm nhận ra điều vô cùng quý giá rằng: Làm công dân của một quốc gia độc lập, có chủ quyền còn bằng vạn lần làm vua một triều đình bị mất nước, một triều đình nô lệ. Chính điều này càng giúp cho ta hiểu sâu hơn rằng trên đời này “Không có gì quý hơn độc lập tự do” và chân lý ấy không bao giờ thay đổi, không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, để có được cuộc sống độc lập, tự do thì hậu thế phải làm tròn bổn phận của mình với quốc gia, dân tộc.
Theo Danhngoncuocsong.com


BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Ngoại giao thời Tây Sơn
Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, vào ngày 13 tháng Tư năm Kỷ [...]
Th3
Bản lĩnh Mạc Đĩnh Chi
Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi sinh năm 1272 và mất năm 1346, đời nhà Trần. [...]
Th3
Nhà thơ của niêm luật
Bà Huyện Thanh Quan là một nhà thơ chặt chẽ về niêm luật. Tên thật [...]
Th3
Đại công thần Nguyễn Xí
Theo sách “Đại Việt thông sử”, Nguyễn Xí sinh năm Đinh Sửu (1397) tại làng [...]
Th3
Đặc công nước thời Trần
Sử sách và giai thoại dân gian từ bao đời nay lưu truyền về một [...]
Th3
Không xứng làm vua
Theo sử sách còn lưu lại đến ngày nay thì đối với Nguyễn Ánh, tức [...]
Th3