Được làm vua

Được làm vua

Trong hậu cung của Lê Thần Tông có rất nhiều giai nhân tuyệt sắc thuộc các dân tộc khác nhau, kể cả những mỹ nhân ngoại quốc. Thế nhưng ngoài 6 nàng công chúa, các phi tần này chỉ sinh được cho nhà vua 4 hoàng tử và sự yểu mệnh của những người kế vị khiến việc tìm người nối ngôi của Lê Thần Tông trở thành nỗi lo canh cánh của ông đến tận lúc sắp trút hơi thở cuối cùng.

Trước khi “về trời”, vua Lê Thần Tông cho gọi chúa Trịnh Tạc đến trước long sàng để gửi gắm về đứa con còn chưa chào đời của mình. Người con đó chính là Lê Duy Hợp, con trai út của Lê Thần Tông và cũng là vị vua thứ 21 của vương triều Hậu Lê với danh hiệu là Lê Hy Tông. Câu chuyện giữa vua Lê Thần Tông với mẹ của Lê Hy Tông cũng là một chuyện tình cờ.

Bấy giờ, sau thời gian 25 năm ở trên ngôi báu, Lê Thần Tông nhường danh hiệu đế vương cho con trai cả là Lê Duy Hựu (Lê Chân Tông) để làm Thái thượng hoàng khi mới 37 tuổi, thế nhưng chỉ 8 năm sau ông lại lên ngôi lần thứ hai vì Lê Chân Tông mất sớm, không có con. Ý thức được sự tồn tại của hoàng tộc, Lê Thần Tông đã cho tuyển chọn nhiều mỹ nữ để mong có con nối dõi. Thậm chí vua còn tổ chức các cuộc tuần du, vừa để xem xét đời sống dân tình vừa để tìm kiếm thêm người đẹp.

Một hôm, đoàn ngự giá của Lê Thần Tông dừng chân nghỉ tại làng Đông Côi, xã Gia Đông, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc (nay là thôn Đông Côi, xã Gia Đông, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), dân làng cùng nhau bày hương án dọc đường làm lễ đón chào vua. Đông Côi là một ngôi làng nhỏ nhưng rất trù phú và là nơi sinh ra nhiều bậc khoa bảng nổi tiếng như tiến sĩ Nguyễn Cư Đạo (đỗ năm 1442), hoàng giáp Nguyễn Giản (đỗ năm 1478)… Không chỉ vậy, nơi đây còn là quê hương của những cô gái vừa có sắc đẹp lại chăm chỉ, tài năng mà Nguyễn Thị Ngọc Trúc là người tiêu biểu nhất. Dù mới đặt chân đến Đông Côi, chỉ nghe kể lại mà Lê Thần Tông đã thấy cảm mến cô gái chưa từng biết mặt. Đoán biết mong muốn của vua, chức dịch trong làng vội vã đưa Ngọc Trúc đến trước hoàng đế và ngay khi thấy nàng, vẻ đẹp hồn nhiên, dịu dàng, chân chất đã khiến Lê Thần Tông rung động.

Trở lại kinh đô Thăng Long, trong đoàn ngự giá của vua có thêm một người, đó là mỹ nhân họ Nguyễn của làng Đông Côi. Về đến hoàng cung, Lê Thần Tông chính thức phong nàng làm cung phi, khi đó Ngọc Trúc mới xấp xỉ 19 xuân xanh, chỉ có điều vì trùng tên với hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc nên cung phi mới của vua phải đổi tên là Ngọc Tấn.

Năm Nhâm Dần (1662), cung phi Ngọc Tấn mang thai trong niềm vui của nhiều người. Ai cũng hy vọng vua sẽ có thêm một hoàng tử nữa vì khi đó trong cung chỉ có hai hoàng tử, một người lên 9 và một người mới tròn 2 tuổi. Không may, đến tháng 11 năm đó, Lê Thần Tông ốm nặng, biết khó qua khỏi ông mới truyền chúa Trịnh Tạc vào nội điện mà dặn rằng: Cung nhân Ngọc Tấn có thai mới được khoảng bốn tháng, chưa rõ là con trai hay con gái, sau này nó ra đời, nhờ vương trông nom giúp cho!

Sau khi Lê Thần Tông mất, Ngọc Tấn xin được trở về quê để chịu tang vua. Tại Đông Côi, nàng quay lại nếp sống gần gũi với bà con chòm xóm nơi thôn dã tuy còn thiếu thốn vật chất, nhưng luôn giàu tình cảm yêu thương. Đến ngày 15 tháng 3 năm Quý Mão (1663), Ngọc Tấn sinh một người con trai, đặt tên là Cáp. Năm Cáp 13 tuổi, một biến cố bất ngờ xảy ra. Trước đó Lê Huyền Tông (Lê Duy Vũ) làm vua được 9 năm thì mất, em vua là Lê Duy Khoái (còn gọi là Cối) được tôn lên ngôi (tức Lê Gia Tông) nhưng chỉ ở ngai vàng được 4 năm thì mất khi mới 14 tuổi. Lúc này, bá quan không biết đưa ai lên ngôi kế vị và chúa Trịnh chợt nhớ đến lời gửi gắm năm nào của Lê Thần Tông, lập tức sai người về làng Đông Côi dò hỏi và hết sức vui mừng khi biết cung phi Ngọc Tấn đã sinh một hoàng tử.

Chọn ngày lành, triều đình tổ chức nghi trượng trang nghiêm, cờ quạt rực rỡ về đón hoàng tử. Bà Ngọc Tấn đành gạt nước mắt để người con yêu quý về kinh làm vua còn mình ở lại quê hương cho đến khi mất. Ngày 12 tháng 6 năm Ất Mão (1675), Lê Duy Cáp chính thức đăng quang ngôi vị hoàng đế, đổi tên Cáp thành Lê Duy Hợp, sử chép gọi là Lê Hy Tông.

Lời bàn:

Lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam đã có không ít trường hợp ngày hôm trước còn là một cậu bé nhà quê, nhưng hôm sau đã trở thành hoàng đế và chễm chệ ngồi trên ngai vàng. Đó là vua Lê Thánh Tông, vị hoàng đế thứ 5 của nhà Hậu Lê, ông trị vì từ năm 1442 đến năm 1447. Tương tự như vậy là vua Thành Thái, vị hoàng đế thứ 10 của nhà Nguyễn, tại vị từ 1889 đến 1907.

Tuy nhiên, điều muốn nói sau giai thoại này không phải là việc không thích hay không muốn nhưng vẫn cứ phải lên làm vua, mà là ở chỗ sống trong cõi đời này nếu ai có phúc, đức thì cái gì đến sẽ đến, cái gì đã là của mình thì chẳng ai lấy đi được. Và cái gì đã không phải là của mình mà cứ cố thì ắt sẽ có kẻ khác cướp mất. Tiếc rằng đạo lý đơn giản ấy không phải ngày nay ai cũng hiểu. Bởi thế mới có kẻ chuyên rình rập sơ hở của người khác rồi kiện cáo lung tung, thậm chí khi bị “gậy ông đập lưng ông” vẫn không chừa mà còn xúi bẩy người khác đi ăn vạ, thật đáng buồn thay.

Kim Ngọc

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Tướng quân Nguyễn Khoái

Nguyễn Khoái sinh và mất năm nào, quê quán ở đâu, hiện tại vẫn chưa [...]

Nữ kiệt Tây Sơn

Năm 1778, Nguyễn Nhạc xưng đế, Bùi Thị Xuân rời Tây Sơn xuống Quy Nhơn, [...]

Ước nguyện không thành

Vào năm Tân Sửu (1761), tức năm Cảnh Hưng thứ 42, Trịnh Sâm đã dâng [...]

Giữ nghiêm phép nước

Nguyễn Văn Giai người làng Phù Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông từng [...]

Phúc để đời sau

Theo sách “Đại Việt thông sử”, Đinh Liệt người Thúy Cối (Lam Sơn, Thanh Hóa), [...]

Giai thoại về Nguyễn Đăng Đạo

Theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, Nguyễn Đăng Đạo sinh năm 1651, người [...]